mandateship letter
Subscribe RSS
Chí lý !!! Feb 23

Truyện cười “chí lý” của các vĩ nhân

Voltaire

Vua Phổ Frederic Đệ nhị mời Voltaire đến thăm cung điện. Rất nhiều quan trong triều đình thèm muốn sự ưu đãi này của vua Phổ đối với nhà văn. Một vị cận thần đặc biệt rất ghen tị với Voltaire đã viết trên cửa ra vào của nhà văn một dòng chữ rất to: “Chó đểu”.

Voltaire đoán ra ngay kẻ muốn lăng mạ mình. Ngay lập tức, ông trở lại nhà gã cận thần nọ và nói rất lịch sự với gã:

– Thưa ngài, tôi xin lại thăm đáp lễ ngài. Tôi đã được đọc “danh thiếp tên ngài” trên cửa nhà tôi. Tôi vô cùng tiếc là đã không ở nhà khi ngài đến thăm!

Bernard Shaw

Bernard Shaw vốn gầy gò, khắc khổ, trông có phần “hom hem”. Trong một buổi họp mặt, có một chính trị gia béo tốt, hồng hào, y phục sang trọng và trang sức rất đắt tiền tới gặp và trêu:

– Này ông, người nước ngoài nào mà nhìn thấy ông thì chắc họ sẽ nghĩ dân Anh phải chịu đói kém, khổ sở lắm!

Bernard Shaw thản nhiên:

– Và rồi khi nhìn sang ông, họ hiểu ngay nguyên nhân của sự đói khổ đó là do đâu!

Albert Einstein

Albert Einstein nói về thuyết tương đối của mình, có một anh chàng đa nghi nên hỏi:

– Trí thông minh của người mạnh khỏe như tôi không thể chấp nhận những cái mà nó không nhìn thấy.

Einstein đứng im lặng một lúc rồi trả lời:

– Được, điều đó có vẻ có lý lắm. Bây giờ ông đặt trí thông minh của mình lên bàn để tôi có thể tin đó là sự thật.

Winston Churchill

Winston Churchill vốn chẳng được phụ nữ Anh yêu mến. Có một bà nói thẳng với ông:

– Nếu tôi là vợ ông, tôi sẽ cho ông uống thuốc độc.

Winston Churchill cười:

– Nếu tôi là chồng bà, tôi sẽ uống nó ngay!

Hans Poelzig

Kiến trúc sư Hans Poelzig nổi tiếng ở Dresden (Đức) trong thập niên 1930, ông có tên trong Hội đồng thành phố nhưng ít khi tham dự những cuộc họp. Một hôm, trong cuộc họp hội đồng có người phát biểu:

– Giáo sư Poelzig, ủy viên hội đồng nhân dân Thành phố, rất ít khi có mặt trong các buổi họp.

Kiến trúc sư Hans Poelzig không khoan nhượng, trả đũa ngay:

– Các ông sử dụng cái đầu hay cái đít của tôi?

Moritz Saphir

Một nhà thơ vốn ghét Moritz Saphir nên dè bỉu:

– Thưa ngài Saphir, ngài viết chỉ vì tiền. Còn tôi viết vì danh dự.

Ông từ tốn đáp:

– Mỗi chúng ta viết vì cái mà chúng ta thiếu!

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Vui cười  | Leave a Comment
Nghệ thuật “thắt nút” Feb 23

Dùng kỹ thuật đan móc đặc biệt gọi là macramé (liên kết bằng nút tạo thành hình), nghệ nhân Vladimir Denshchikov (người Ukraina) đã tạo những hình tôn giáo độc đáo bằng vải lanh.

Sinh ngày 1-7-1952 tại Kiev, Vladimir Denshchikov tốt nghiệp ĐH Kiev Theater và làm diễn viên. Ông trở thành giám đốc và đạo diễn tại Nhà hát kịch Simferopol Crimea Maxim Gorky của Nga, từ năm 2007 ông dạy nghệ thuật và làm đạo diễn tại Viện Văn hóa Simferopol. Sự nghiệp của ông khá ấn tượng, nhưng ông được biết đến nhiều về sở thích độc đáo của ông là làm những hình ảnh tôn giáo khác lạ bằng vải lanh.

Chỉ có mặt và tay của các thánh thì ông vẽ, mọi thứ khác đều được làm bằng hàng triệu nút thắt bằng vải. Ông không dùng dụng cụ gì, như kim may hoặc kim móc để tạo các nút thắt, mọi kiểu đều được ông làm bằng tay. Các chất liệu cũng do chính ông làm. Ông dùng những sợi vải lanh 0,5×2 m để tạo tranh. Ông làm một bức tranh 40×50 cm mất từ 3 tới 6 tháng mới xong. Nghe có vẻ lâu, nhưng chúng ta đừng quên rằng mỗi bức tranh đó có tới 9 triệu nút thắt nhỏ gọn, và hoàn toàn được làm bằng tay.

Năm 2007, Vladimir Denshchikov bị đột quỵ, ngay trước đêm ra mắt công chúng mà ông dạy tại Viện Văn hóa Simferopol. Khi phục hồi, ông lại tiếp tục làm tranh vải cho nhà thờ Malorechenskoye. Khi ông cố gắng thắt những nút nhỏ, ông cảm thấy tay bại liệt của mình lại thoăn thoắt như xưa, như thể chính Chúa hướng dẫn tay ông vậy. Ông khỏi bệnh một cách kỳ lạ và lại tiếp tục làm nên những bức tranh “thắt nút” nghệ thuật độc đáo bằng kỹ thuật macramé.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngừ từ OddityCanytal.com)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Văn hóa  | Leave a Comment
Định luật mâu thuẫn Feb 22

Tất cả đều tương đối, từ khởi nguyên đến tận thế là vậy, nhưng chỉ từ khi có định luật tương đối của bác học Einstein thì người ta mới khả dĩ chân nhận là tất cả đều tương đối – nghĩa là tương-đối-tuyệt-đối và tuyệt-đối-tương-đối.

Ai cũng là giám đốc, làm sao có nhân viên hoặc công nhân? Và như vậy làm sao có nhà máy? Ai cũng là giám mục, linh mục, làm sao có giáo dân? Và như vậy làm sao có giáo hội? Cả đời và đạo, dù là ai cũng đều tương quan với nhau, không trực tiếp thì cũng gián tiếp, vì thế mà không ai có quyền tự tôn tự đại – nói theo ngôn ngữ bình dân hiện đại là “chảnh”. Tại sao? Mỗi con người đều có một nhân vị như nhau và bằng nhau trước Tòa án Công minh của Thiên Chúa. Mỗi người được Thiên Chúa ban cho những ơn khác nhau, nhưng tất cả đều là để vinh danh Thiên Chúa.

Một người làm quan, cả họ được nhờ. Đó là lẽ thường ở đời. Chuyện kể trong trình thuật Mt 20:20-23, ngay cả hai con ông Dêbêđê cũng được người mẹ dẫn lẽo đẽo theo Chúa Giêsu cố nài xin cho được một đứa ngồi bên phải và một đứa ngồi bên trái Ngài, mong được “thơm lây”, nhưng Chúa Giêsu nói thẳng: “Các người không biết các người xin gì! Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?”. Chẳng biết lúc đó ba mẹ con có thấu hiểu hết ý Chúa không, nhưng cũng may mà họ mạnh dạn nói: “Thưa uống nổi”. Chúa gật gù và mỉm cười: “Được, chén của Tôi, các người sẽ uống; còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Tôi, thì Tôi không có quyền cho, nhưng Cha Tôi đã chuẩn bị cho ai, thì kẻ ấy mới được”.

Xưa nay chắc là Chúa Giêsu chưa trách mắng ai nặng như Phêrô, vị giáo hoàng tiên khởi của Công giáo: “Satan, lui lại đàng sau Thầy!” (Mt 16:23). Thật ra giáo hoàng Phêrô có ý tốt, vì thương Sư phụ, khi Chúa nói sẽ đi Giêrusalem chịu đau khổ và chịu chết, nên mới nói: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” (Mt 16:22). Chúa Giêsu “phang” ông ngay một câu nảy lửa, hơn cả chậu nước lạnh tạt vào ông. Nghĩ cũng đúng, giáo hoàng Phêrô bị chửi nặng là phải, vì theo Chúa Giêsu giải thích, giáo hoàng Phêrô có cách nghĩ của loài người chứ không là cách tư duy của Thiên Chúa.

Và chúng ta cũng thế, thậm chí còn tệ hơn vậy rất nhiều. Khó là chúng ta khả dĩ nhận biết và chấp nhận!

Điều kiện để được làm việc này hay việc nọ, chức vụ này hoặc chức vụ kia, người ta đòi bằng cấp, học vị, nam phải đẹp trai, nữ phải có ngoại hình,… Còn Chúa Giêsu lại đưa ra điều kiện “không giống ai”, hoàn toàn ngược đời: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16:24). Có lẽ Chúa thấy người ta khó hiểu nên Ngài nói “toạc móng heo” luôn: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16:25). Quả là điều kiện ngược đời và khắc nghiệt quá!

“Từ bỏ mình”, nghe chừng quá đơn giản nhưng hoàn toàn không đơn giản chút nào, thậm chí là rất nhiêu khê!

Thế nhưng, chính Định luật Mâu thuẫn ấy lại có sức hấp dẫn cực mạnh và kỳ diệu. Bằng chứng là đã có biết bao nhân chứng suốt từ hơn 2.000 năm qua đã, đang và sẽ xả thân vì Chúa. Người ngoại giáo cho đó là hành động dại dột, ngu xuẩn hoặc điên rồ. Trong chúng ta cũng đang có những người đang rất “điên”, và mong sao có những con người dám điên thật chứ không điên giả!

Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô Assisi, vị thánh nghèo, là phần hòa âm trong bài tổng phổ “Mâu Thuẫn Ca” của Chúa Giêsu, với những điều đối lập nhau: “Tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người yêu mến. Chính lúc hiến thân là lúc được nhận lãnh, chính quên mình là lúc gặp lại bản thân, chính lúc thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.

Tuyệt vời biết bao với cách cầu nguyện “nhẹ nhàng” của thánh Phanxicô Assisi: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người, xin dùng con như khí cụ bình an của Chúa”.

Lạy Chúa, con không biết nói gì hơn nữa, xin thêm sức mạnh cho con can đảm sống theo Đinh luật Mâu thuẫn của Ngài từng giây từng phút như hơi thở của con vậy. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
THƠ : Con Đường Khổ Đau, Cát Bụi Dễ Thương, Vào Sa Mạc Feb 22

CON ĐƯỜNG KHỔ ĐAU

Con đường Chúa đã đi qua

Là con đường khổ đau và chông gai

Giêsu là Chúa muôn loài

Thế mà còn bị chê bai tận cùng

Lại còn bị giết thê lương

Chết treo nhục nhã trần truồng, cô đơn!

Huống chi là hạt-bụi-con

Sao thoát đau buồn, sao thoát bị khinh?

Xin cho con vững đức tin

Dẫu bao gian khó quyết tìm Chúa thôi

Đường đau khổ bỗng tuyệt vời

Con đường ấy Chúa đi rồi. Minh nhiên!

Gập ghềnh ngày tháng trần gian

Ngước nhìn Thập giá, com thêm vững lòng

TRẦM THIÊN THU

Tối Thứ Ba Béo – 2012

CÁT BỤI DỄ THƯƠNG

Thân con cát bụi mà thôi

Nhưng vẫn tuyệt vời vì được Chúa yêu

Chở che, nâng đỡ, cưng chiều

Thay con chịu đựng khổ đau, nhục hình

Dẫu con lầm lạc, vô tình

Mà Ngài vẫn đợi, vẫn tìm kiếm con

Thấy con, Ngài lại ôm hôn

Không hề ghét bỏ, không than trách gì

Thân con cát bụi phù du

Bỗng dưng con lại hóa là dễ thương

Tuyệt vời Tình Chúa khôn lường

Con xin cảm tạ miên trường, Chúa ơi!

TRẦM THIÊN THU

Lễ Tro – 2012

VÀO SA MẠC

(Diễn ý Mt 4:1-10)

Con âm thầm đếm bước

Vào Sa Mạc Mùa Chay

Chúa đã ở đó trước

Chờ con đến với Ngài

Quỷ đã cám dỗ Chúa

Về thèm uống, thèm ăn

Nhưng Chúa liền bảo nó:

“Lời Chúa còn cần hơn”

Quỷ lại cám dỗ Chúa

Về địa vị, quyền hành

Nhưng Chúa liền bảo nó:

“Đừng thử Chúa quyền năng”

Quỷ còn cám dỗ Chúa

Về vật chất, bạc tiền

Nhưng Chúa liền bảo nó:

“Thờ Chúa đi, Satan!”

Cuộc đời con cũng thế

Bao cám dỗ ngày đêm

Xin Ngài thương nâng đỡ

Và luôn ở cạnh con

TRẦM THIÊN THU

Chiều Lễ Tro – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Thi ca  | Leave a Comment
Trăng trối Feb 21

Nói đến động từ trăng trối là nói đến người sắp chết. Nỗi buồn lan tỏa. Màu tím đượm sầu. Im lặng trĩu nặng. Sâu lắng. Xúc động. Khi chứng kiến một người hấp hối, người ta không khỏi ngậm ngùi, mức độ ngậm ngùi tăng theo tỷ lệ thuận với mức độ thân thích. Có những giọt nước mắt không thể kiềm chế nên chúng tự do trào ra và lăn dài, cõi lòng đau nhói.

Chết là nỗi đau khổ nhất, cả nghĩa đen và nghĩa bóng, và “dầu là Con Thiên Chúa, Đức Kitô đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:8). Chúa Giêsu bị treo trên Thập giá cũng bị coi là thất bại ê chề! Chết là thất bại lớn nhất của nhân loại. Hầu hết con người đều sợ chết, nhưng vẫn có những con người không tham sống, không sợ chết, dám liều thân vì chính nghĩa. Và người sắp chết luôn nói thật.

Trước khi chết, nếu còn gì cần nhắn nhủ, người ta sẽ trăng trối bằng cả tấm lòng. Người nghèo thì chỉ có di ngôn, người giàu thì làm di chúc (chia của cải, đất đai cho con cháu). Đức Kitô quá nghèo, nghèo rớt mồng tơi, nghèo đúng nghĩa: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8:20; Lc 9:58), đến chết cũng bị lột trần. Không chỉ nghèo về vật chất mà Ngài còn “trắng tay” cả về tình cảm: 11 người trong 12 người thân tín nhất của Ngài cũng đang tâm bỏ rơi Ngài. Ngài “trở nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng. Bạn bè thân thích đều kinh hãi, thấy ngoài đường thì ai cũng tránh xa” (Tv 31:12). Nghèo tột cùng trong nỗi cô đơn cùng cực. Ngài nghèo tới mức không còn thể nghèo hơn. Còn ai nghèo hơn Ngài không?

Vì quá nghèo như thế nên Ngài không có của cải để di chúc, mà chỉ có di ngôn: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15:12), là luật sống mà Ngài gọi là “điều răn mới” (Ga 13:24) và là dấu chỉ để thiên hạ nhận biết ai là môn đệ của Ngài (Ga 13:35). Ngài không bông đùa, không nói suông, không bóng gió. Phúc âm theo thánh sử Gioan đã nhắc đến động từ “yêu thương” 14 lần, điều đó càng chứng tỏ yêu thương là điều rất cần thiết, như điều kiện ắt có và đủ. “Luật yêu thương nhau” chính là di ngôn trăng trối của Chúa Giêsu cho mỗi chúng ta trước khi Ngài bị giết chết.

Trong tình yêu chân thật, khoảng cách nhỏ nhất cũng là quá xa, và khoảng cách xa nhất cũng có thể bắc cầu (Hans Nouwens). Tình yêu thương không có biên giới. Cụ thi hào Nguyễn Du đã cảm nhận: “Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Biết cách chấp nhận thì lòng thanh thản. Còn nhạc sĩ Vũ Thành An, khi chưa làm phó tế vĩnh viễn, đã viết trong một Bài Không Tên: “Triệu người quen có mấy người thân, khi lìa trần có mấy người đưa”. Cuộc đời là thế, và Chúa Giêsu đã chịu tình cảnh thế thái nhân tình như vậy. Tuy nhiên, Ngài không cần chúng ta khóc thương Ngài, như Ngài nói với các phụ nữ Giêrusalem: “Đừng khóc thương Tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28). Chúa chỉ muốn chúng ta noi gương Ngài mà yêu thương nhau thật lòng.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con chỉ là hạt bụi li ti mà làm bận mắt Ngài. Xin giúp chúng con biết thực hiện đúng di ngôn của Ngài để ích lợi cho chính chúng con, chứ chẳng ích lợi gì cho Ngài. Xin cho chúng con biết can đảm chấp nhận thực tế – dù phũ phàng, biết đón nhận đau khổ là niềm hãnh diện về Thập giá (Gl 6:14). Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

Thomas Aquinas TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Người tử tù Feb 21

­­Quốc gia nào cũng có những tù nhân, đặc biệt là tử tù. Nhưng có một tử tù đặc biệt nhất và là tử tội độc nhất vô nhị: Đức Giêsu Kitô. Nếu ở thời nay thì hẳn là người ta xử bắn Ngài, còn luật Do Thái thời đó là đóng đinh vào Thập giá.

Biết mình sắp chết thì đa số đều thấy run sợ, nhưng xử bắn “đùng” một cái thì cũng… không đáng sợ lắm. Vả lại, ngày nay người ta còn cho tử tội ăn thỏa thích trước khi chết. Còn Chúa Giêsu, không được ăn, có chăng là chút giấm chua, lại còn bị sỉ nhục, hành hạ, vác thập giá khi bụng đói – vì bị bắt từ đêm hôm trước, sáng hôm sau bị xử, rồi tự vác thập giá đi đến chiều, không hề được ăn uống gì. “Đặc biệt” hơn là Ngài phải vác thập giá, còn các tử tù khác đâu phải vác. Người ta quá ghét Chúa Giêsu, ghét hết mức, ai cũng ghét!

Người Do Thái nói: “Chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp, nhưng vì một lời nói phạm thượng: Ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa” (Ga 10:33), và “Chúng tôi có Lề Luật, chiếu theo Lề Luật thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa” (Ga 19:7). Có lẽ chúng ta chê dân Do Thái cứng lòng tin và độc ác, nhưng nếu là chúng ta ngày nay thì hẳn là Chúa Giêsu bị đánh tại chỗ chứ không tìm cách bắt lúc khác như dân Do Thái đâu. Họ làm sao hiểu ngay khi con hai ông bà thợ mộc ở một xóm lao động nghèo mà lại bảo là Con Thiên Chúa? Khó tin lắm chứ! Thế nên họ cho là Chúa “lộng ngôn”. Thanh niên ngày nay sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay hoặc rút dao đâm ngay nếu ai đó nói “sốc”, thậm chí có người “ra tay” chỉ vì nhìn ngứa mắt, nghĩa là họ không làm gì nên tội cũng đánh chơi vậy!

Người ta luôn nói: “Đa số hơn thiểu số”. Nhiều người đồng ý thì đó là đúng, ít người đồng ý thì đó là sai. Đó là luật bất thành văn mà mọi người đều công nhận. Nhưng thực ra đâu phải đa số là đúng. Hạnh tích các thánh cho chúng ta biết đa số vẫn sai, sai vô cùng.

Có những con người đầy ác ý. Vì không thỏa mãn nhục dục, hai kỳ mục làm chứng gian cho bà Su-san-na, nhưng Thiên Chúa đã dùng Đa-ni-en minh oan cho bà (x. Đn 13:1-62). Nhiều nhân chứng cũng đâu hẳn là đúng. Người trên muốn đè bẹp người dưới, người ỷ quyền cậy thế muốn chứng tỏ thế lực. Lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng. Nhưng họ quên rằng “hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu” (ngậm máu phun người thì miệng mình dơ trước).

Ðn 3:1-20 thuật lại: Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo làm một pho tượng bằng vàng cao sáu mươi thước, ngang sáu thước, sai người triệu tập các thống đốc, thủ lãnh, tổng trấn, các cố vấn, các quan coi ngân khố, các luật sĩ, thẩm phán và tất cả các quan chức hàng tỉnh đến khánh thành pho tượng. Chính đức vua đã truyền rằng khi nghe tiếng tù và, tiếng sáo, tiếng đàn dây, đàn sắt, đàn cầm, tiếng kèn và đủ thứ nhạc cụ, mọi người phải sấp mình thờ lạy pho tượng vàng, và kẻ nào không sấp mình thờ lạy sẽ bị ném vào đống lửa đang cháy phừng phực. Nhưng Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô không thờ lạy pho tượng vàng nên vua Na-bu-cô-đô-nô-xo thịnh nộ. Vua lên tiếng truyền đốt lò lửa mạnh hơn gấp bảy lần và ném họ vào lò lửa, nhưng Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô không hề hấn gì.

Và rồi vua Na-bu-cô-đô-nô-xo cất tiếng nói: “Chúc tụng Thiên Chúa của Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô, Người đã sai thiên sứ đến giải thoát các tôi tớ của Người là những kẻ đã tin tưởng vào Người”.

Bà Su-san-na được Đa-ni-en minh oan. Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô được tự do nhờ vua Na-bu-cô-đô-nô-xo nhận ra Thiên Chúa, và ông đã tuyên bố: “Ta truyền rằng bất cứ người nào thuộc bất cứ dân tộc, giống nòi, ngôn ngữ nào dám nói điều gì sai quấy, phạm đến Thiên Chúa của Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô, sẽ bị xử lăng trì, và nhà chúng sẽ trở thành đống bùn, bởi vì không có thần nào khác có thể cứu được như thế”. Những người như vậy được Chúa cứu nhãn tiền.

Còn Chúa Giêsu không được minh oan. Mà còn ai dám minh oan, vì ngay các môn đệ thân tín nhất cũng sợ bị liên lụy mà bỏ rơi Ngài rồi. Thế nên, ai có hỏi gì thì Ngài cũng chỉ im lặng, đến nỗi vị thượng tế nói: “Ông không nói lại được một lời sao?” (Mt 26:62). Nói gì khi người ta không muốn nghe, không muốn biết, không muốn hiểu? Làm đúng bị coi là sai, làm gì cũng bị xét nét, cầu nguyện thì như bị làm ngơ, nên Chúa Giêsu đã thốt lên: “Cha ơi! Sao Cha nỡ bỏ rơi con?” (Mt 27:45), nhưng Ngài vẫn nhận ra Ý Cha và sẵn sàng tuân phục. Chỉ khi được hỏi có phải là Con Thiên Chúa hay không thì Chúa Giêsu mới trả lời: “Chính ngài vừa nói” (Mt 26:64).

Người ta ghét cay ghét đắng Chúa vì cho rằng Ngài xúi giục dân chúng nổi loạn, xách động dân chúng. Họ sợ bị lấn quyền mà đổ oan cho Chúa. Cai-pha xác định: Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11:50). Thật vô lý! Tuy nhiên, đó lại là Thánh Ý Thiên Chúa mầu nhiệm: Đức Giêsu phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, mà còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối (Ga 11:51-52).

Trước mắt con người, Giêsu Kitô là một tử tội đáng khinh bỉ, đáng nguyền rủa, đáng bị trừng phạt và “đáng đời” – vì Ngài không bằng tên cướp tử tội Baraba. Nếu chúng ta ở thời đó thì chắc gì chúng ta đã hơn dân Do Thái? Nếu vậy thì thật may là chúng ta có được một đức tin tông truyền hằng ngàn đời qua, thế mà đôi khi chúng ta vẫn không tránh được những lúc chao đảo!

Chết không là hết. Chết không là thất bại. Chết là sống muôn đời (Thánh Phanxicô Khó nghèo). La-da-rô đã chết 4 ngày, nặng mùi rồi, thế nhưng ông liền ra khỏi mồ khi Chúa Giêsu gọi đích danh. Và rõ ràng nhất là “người tử tội” Giêsu khả dĩ phục sinh khải hoàn – dù có những người không muốn tin và phao tin đồn nhảm!

Lạy Chúa Giêsu, vì vâng lời Chúa Cha và vì muốn cứu độ chúng con mà Ngài phải chết nhục nhã ê chề, xin nâng đỡ và hướng dẫn chúng con biết chết cho chính tội lỗi của mình để cùng phục sinh với Ngài. Xin hiệp nhất chúng con và quy chúng con về một mối. Xin cho chúng con nhận ra nhiều cách phụng sự Chúa, và xin đừng để những cách đó trở thành vô ích. Amen.

Thom. Aq. TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Thập giá Feb 21

Thập giá – đau khổ và nhục nhã

Thập giá là dụng cụ nhục hình dành cho các tội nhân thời đó. Thập giá là biểu tượng của sự thử thách, của nỗi khổ đau. Trong cuộc sống, dù muốn dù không, chúng ta vẫn gặp và chịu đựng nhiều thứ trái ý. Thật vậy, bị áp bức hoặc không làm gì được người kia thì đành phải chịu thua. Đó là “bị” vác thập giá, bị nhục nhã. Người Việt có câu: “Một sự nhịn, chín sự lành”. Nhưng người ta thường “nói đùa” là “một sự nhịn, chín sự… nhục”.

Tuy nhiên, Thập giá cũng chính là dụng cụ nhục hình mà Chúa Kitô đã chịu đóng đinh vào, và Ngài đã chết trên đó để cứu chuộc nhân lọai. Ngài đã bị nhục nhã ê chề, vì hình phạt đóng đinh vào Thập giá chỉ dành cho những tên tội phạm “khét tiếng”. Không chỉ là bị đóng đinh vào Thập giá mà Ngài còn bị lột trần. Vô cùng nhục nhã. Thậm chí các môn đệ chí thiết cũng tìm cách rời xa Ngài vì sợ bị liên lụy. Chúa Giêsu đã bị liệt ngang hàng với cỡ tội phạm nguy hiểm như Baraba hoặc Osama bin Laden. Có lẽ không còn sự nhục nhã nào hơn nữa!

Thập giá – hy vọng và quang vinh

Thập giá còn có nghĩa là bất cứ thử thách đau khổ nào mà Kitô hữu phải chịu, và tự nguyện chấp nhận, để được kết hợp với Chúa và cộng tác với Ngài trong việc cứu rỗi chính mình và các linh hồn. Như thế, Thập giá không còn là nhục hình mà lại trở thành một mầu nhiệm được mặc khải, được Chúa dạy khi Ngài nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Thầy” (Mt 16:24; x. Mt 10:38 và Lc 14:26-27). Mầu nhiệm Thập giá là một trong các chủ đề chính yếu của các thư thánh Phaolô (Rm 5:8; I Cr 1:17; Gl 4:16 và Pl 2:6-11).

Trên Cây Thánh Giá, Chúa Giêsu là Đấng vô tội nhưng đã bị vu cáo, là Đấng Công chính nhưng đã bị kết án, là Đấng Chí Thánh nhưng đã bị đày ải, là Vua Trời Đất nhưng đã bị hành hạ nhục nhã và bị đóng đinh chết tức tưởi, là Con Thiên Chúa toàn năng nhưng đã bị thóa mạ, bị chà đạp và bị từ chối, là Ánh Sáng nhưng đã bị tối tăm vây phủ, là Đấng vô cùng cao sang nhưng đã bị trần truồng tủi hổ, chịu chết treo trên hai miếng gỗ, là Sự Sống nhưng đã phải trút hơi thở cuối cùng, là Sự Chết nhưng cũng là Sự Sống Lại.

Thánh Jean Chrysostome (Gioan Kim khẩu) suy niệm: “Cây Thánh Giá là hy vọng của các Kitô hữu, là sự sống lại của kẻ chết, là sự hướng dẫn cho kẻ mù, là cây gậy cho người què, là sự an ủi cho kẻ nghèo khổ, là sự kềm hãm của kẻ giàu sang, là sự hành hạ đối với kẻ xấu xa, là sự chiến thắng ma quỷ, là kẻ chỉ đạo cho người thanh niên, là bánh lái cho những người vượt sóng, là cửa biển cho những kẻ đi xa, là thành lũy cho những kẻ bị vây hãm”.

Thập giá là chìa-khóa-Nước-Trời, là chìa-khóa-vạn-năng giúp chúng ta xử lý bất kỳ trường hợp nào trong cuộc sống. Khi cô đơn, đau khổ, vất vả, thất vọng, lo sợ, tủi nhục,… cứ ngước nhìn Thập giá Đức Kitô thì người ta sẽ tìm được ủi an, nâng đỡ và bình an. Thánh Jean Chrysostome nói: “Hiểu đau khổ, đón nhận đau khổ, tiến dâng đau khổ, đó là nguồn sống hạnh phúc hoan lạc. Chiến đấu với tội lỗi là chiến đấu với đau khổ”. Với Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu: “Có Chúa, tất cả đau khổ thế trần là thần lương bổ dưỡng, và tất cả an ủi thế trần trở nên cay đắng”.

LM Anton Torès viết: “Vác Thánh giá mà không có gì an ủi, đó là lúc ta đang bay bổng trên đường trọn lành; khi cầu nguyện mà không nghe động tình vui thú an ủi, đó là cách cầu nguyện rất hữu ích cho linh hồn”. Một Saolê hung hãn bắt đạo đã trở nên một Phaolô hăng say rao giảng về Thập giá: “Lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa. Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (I Cr 1:18, 25).

Cứ ngỡ Thập giá là nhục nhã nhưng lại là niềm hy vọng và vinh quang. Bác học Voltaire đã thốt lên: “Lạy Chúa, con đã chiến đấu 60 năm vì vinh quang Ngài” (Mon Dieu, j’ai combattu soixante ans pour Ta gloire). Chiến đấu thì phải đau khổ, có đau khổ mới có vinh quang. Trong một chương trình phát thanh, đài Nguồn Sống xác định: “Chúa không cần người có tài, nhưng Ngài cần người mà Ngài có thể dùng”. Đó là những người xả thân vì Đức Kitô, không có tài sẽ được Ngài hỗ trợ – như Samuel, thánh nữ Faustina,… Có tài thì vẫn tốt, nhưng Chúa cần có đức trước, như người Việt thường nói: “Tiên học lễ, hậu học văn” vậy. Chúa Giêsu có những cái “ngược đời”, nhưng đó lại là những điều tối cần thiết để sống hữu ích cho chính mình, cho tha nhân, cho Giáo hội, cho tổ quốc, cho xã hội – hôm nay và ngày mai. Chúa Giêsu bị treo trên Thập giá và Ngài kéo chúng ta lên. Ngài lên cao và vinh quang qua con đường Thập giá thì chúng ta cũng nhờ Thập giá mà hy vọng được lên cao và chung hưởng vinh quang với Ngài.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con thật lòng yêu mến và say mê Thập giá để khả dĩ là khí cụ của Ngài, dám sống “ngược đời” như Ngài, và như mong muốn “không giống ai” của Thánh Phaolô: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài Thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6:14).

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Si tình Feb 21

Trong cơ thể con người, đa số là nước, các chất khác không đáng kể, phân chất ra để bán thì không có gì đáng giá. Nhưng cái vô giá lại là máu. Gọi là máu vì có màu đỏ, khác nước, nhưng cũng đều là chất lỏng. Nước nhiều nghĩa là con người rất… “mềm”, có thể đồng nghĩa với rất yếu đuối! Thế nên thánh Phaolô đã “tự thú”: “Điều tôi muốn thì tôi lại không làm, điều tôi không muốn thì tôi lại làm” (Rm 7:19).

Não bộ là trung tâm điều khiển, nhưng trái tim mới chính là “trung tâm sự sống”, là nguồn sống. Những người bị điên khùng, bị thiểu não, hoặc bị bại não và sống thực vật, thậm chí là chết lâm sàng, nhưng họ vẫn sống nhờ trái tim hoạt động. Tim hoạt động nghĩa là máu còn lưu thông. Vậy MÁU rất quan trọng cho sự sống. Chúng ta thường nói người này hay người nọ “máu lắm” là vậy. Cũng chính vì máu đó mà Thánh Tâm Chúa Giêsu là “lò lửa yêu thương” hằng cháy bừng. Nhưng máu Ngài không bạo động, không thù hằn, không ghen ghét,… mà máu Ngài chỉ đầy chất YÊU. Chẳng vậy mà trước khi chết, Ngài còn “làm phép” để trao ban chính Máu Thịt Ngài làm thần lương nuôi sống chúng ta hằng ngày. Độc chiêu quá!

Đáng lẽ chúng ta, những tội nhân, phải bị Thiên Chúa trừng phạt vì đã phạm những tội quá kinh khiếp và tái phạm quá nhiều lần, tiếp tay với Giuđa và ăn chia với ma quỷ, đồng thời lại “rửa tay” như Philatô, nhưng Thiên Chúa đã bắt chính Con Yêu Dấu là Chúa Giêsu “phải” chịu hình phạt là chết thay cho chúng ta. Chúa Giêsu biết mình bị hàm oan nhưng Ngài hết lòng tuân phục Cha nên vui nhận cái chết nhục nhã ê chề nhất: “Đức Kitô đã cứu chuộc chúng ta khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, trong khi vì chúng ta mà chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ!” (Gl 3:13).

Đại văn hào Victor Hugo nói: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Con người còn cảm nhận được điều “khác người” đó huống chi Đức Kitô. Quả thật, Ngài là một người si tình độc nhất vô nhị, phàm nhân không đủ ngôn từ để diễn tả!

Có hai người, A làm lỗi, B không làm lỗi. Nhưng A cứ đổ riệt cho B và cha mẹ cũng nhất quyết xử phạt B. Nếu chúng ta là B thì sao? Hẳn là chúng ta phản đối kịch liệt, cần thiết thì sẽ nhờ tòa án phân xử.

Còn Chúa Giêsu, Ngài “khác nào con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt” (Gr 11:19), không hề ý kiến, không một lời than thân trách phận, và cũng không trách kẻ đã làm hại mình, thậm chí còn tha thứ cho kẻ dã tâm đó: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không hiểu việc họ làm” (Lc 23:24). Kẻ thủ ác cố ý mà Ngài vẫn nghĩ tốt cho họ, nói là “họ không hiểu”. Cchúa quá “khác người” và “ngược đời” hết cỡ thợ mộc!

Tại sao Đức Kitô phải chết? Vì yêu thương chúng ta, yêu thật lòng, yêu hết mức, yêu tới nơi tới chốn, yêu như cuồng như dại, yêu đến cùng, tình yêu thương đó đã khiến Ngài chảy đến giọt máu và giọt nước cuối cùng.

Chúa Giêsu hành động chứ không nói để mà nói. Ngài làm trước và đòi buộc chúng ta cũng phải làm như Ngài: “Hãy yêu kẻ thù, hãy làm điều tốt cho người ghét mình” (Lc 6:27). Ngài không hưởng thụ mà toàn tâm toàn lực phục vụ: “Tôi đến để phục vụ chứ không để được phục vụ” (Mt 20:28).

Lạy Chúa Giêsu, là Trưởng Tử, là Thầy, là Người Yêu và là Bạn Hiền của chúng con! Ngài ra đi để chuẩn bị cho chúng con sẽ theo Ngài về với Cha nay mai, kẻ trước người sau, xin giúp chúng con biết chết cho chính tội lỗi của mình để xứng đáng cùng Ngài phục sinh vinh quang. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
CÔ ĐƠN và NHỤC NHÃ Feb 21

NỖI CÔ ĐƠN

Bạn có bao giờ cảm thấy cô đơn cùng cực hoặc bị nhục nhã ê chề? Chắc hẳn ai cũng đã từng hơn một lần có cảm giác như vậy. Nhưng có lẽ nỗi cô đơn và nhục nhã của chúng ta không là gì so với Chúa Giêsu. Mọi người đều phản đối Ngài, ghét Ngài và đồng thanh: “Đóng đinh nó vào thập giá” (Mt 27:22). Ngài không bằng tên cướp khét tiếng Baraba. Trước mắt mọi người, Chúa Giêsu là kẻ thua cuộc và hoàn toàn chiến bại!

Tại vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu chỉ tâm sự với Phêrô và hai con ông Dêbêđê: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây canh thức với Thầy” (Mt 26:38). Nỗi buồn rầu và lo sợ quá lớn khiến bản tính con người nơi Ngài tưởng chừng không chịu nổi. Và rồi Ngài đã phải thốt lên: “Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39).

Thật vậy, nỗi cô đơn quá lớn! Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Ngài càng cô đơn hơn, vì ngay cả các môn đệ – những người đã bao năm đồng hành với Ngài, từng khâm phục Ngài, từng từ bỏ tất cả để theo Ngài và cùng chia vui sẻ buồn với Ngài – mà giờ đây cũng chuồn hết, rời bỏ Ngài, chỉ dám đứng xa xa, thậm chí còn chối bỏ Ngài, không dám nhận Ngài là người thân. Và rồi Ngài lại thốt lên trong nỗi cô đơn tột đỉnh: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài nỡ bỏ rơi con?” (Mt 27:46). Thực sự đó là cảm giác tứ cố vô thân!

Có lẽ không còn nỗi cô đơn nào lớn hơn thế nữa, cảm giác mà mình thấy hầu như những người thân nhất cũng ghét bỏ mình, xa lánh mình. Khi đó, người ta không còn biết nói gì – vì không ai hiểu mình, không có ai để trút bầu tâm sự, mình nói đúng cũng bị cho là sai!

SỰ NHỤC NHÃ

Chính Giuđa đã dùng nụ hôn để làm dấu hiệu ai là Giê-su để bọn thủ ác bắt. Nụ hôn là biểu hiện yêu thương, nhưng Giuđa lại dùng nụ hôn để biểu hiện lòng phản trắc. Sau khi bắt và dẫn Ngài đi, họ lột trần Ngài, bịt mắt Ngài, khạc nhổ vào mặt Ngài, đấm đánh hung bạo và tát Ngài, rồi còn mỉa mai: “Ông Kitô ơi, hãy nói tiên tri cho chúng tôi nghe đi: ai đánh ông vậy?” (Mt 26:67-68; Lc 22:64). Chưa thỏa lòng, họ còn kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Ngài và trao cho Ngài một cây sậy làm vương trượng, rồi chế nhạo: “Vạn tuế Vua dân Do thái” (Mt 27:29).

Kẻ qua người lại cũng đều nhục mạ Chúa Giêsu, họ vừa lắc đầu vừa nói: “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong 3 ngày lại xây được, hãy tự cứu mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa thì xuống khỏi thập giá xem nào!” (Mt 27:39). Nhục nhã quá!

Trên Đồi Sọ, người ta nhẫn tâm cho Người uống rượu pha mật đắng (Mt 27:33-34), lại còn thách thức: “Hắn cậy vào Thiên Chúa thì bây giờ Chúa cứu hắn đi, nếu quả thật Chúa thương hắn” (Mt 27:43). Khi Ngài bị đóng đinh và treo trên thập giá, đau đớn vô cùng vì mồ hôi và máu ra nhiều, Ngài kêu “khát” thì họ lấy miếng bọt biển thấm đầy giấm, rồi buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Ngài uống (Mt 27:48; Lc 23:36).

Ngài chịu nhục nhã ê chề đến tột cùng, nhưng Ngài vẫn im lặng, không than thân trách phận và cũng không hề trách những người nhục mạ mình, mà Ngài lại cầu nguyện cho họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Bị sỉ nhục vậy mà Ngài vẫn độ lượng và yêu thương vô bờ bến, vô điều kiện, làm sao phàm nhân khả dĩ hiểu thấu?

Cuối cùng, Chúa Giêsu kiệt sức và nói: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46). Ngài chết tức tưởi quá! Nhưng tất cả là đức vâng lời. Trời đất bỗng rung chuyển kỳ lạ. Thấy vậy, những người giết Ngài đã phải công nhận: “Quả thật, ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27:54).

CẢM NHẬN

Chúa Giêsu đã từng cảnh báo: “Tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối” (Mt 26:41). Thân phận con người quá mỏng dòn và yếu đuối, đầy sai lầm và tội lỗi. Rất cần có Chúa! Thánh Têrêsa, có lần sau nỗi cô đơn xao xuyến, cũng đã thắc mắc: “Hồi nãy Chúa ở đâu?”. Chúa trả lời: “Cha vẫn cùng con chiến đấu”.

Tôi cũng đã có những lúc cảm thấy lạc loài những khi thân nhân lần lượt giã từ cuộc đời. Tôi cô đơn ngay giữa những người khác vì tư tưởng mình không hợp với những họ, và có vài lần tôi đã vấn nguyện: “Sao Chúa bỏ rơi con? Chúa còn thương con không?” (x. Mt 27:45). May mà vẫn duy trì được niềm tin vào Thiên Chúa. Cảm nhận một chút nào đó về nỗi cô đơn và nhục nhã của Chúa Giêsu để có thể tiếp tục hành trình cuộc sống, dù chông gai và cạm bẫy rất nhiều trên đường đời – hôm nay và ngày mai.

Lạy Chúa, xin Ngài luôn đồng hành, độ trì và nâng đỡ chúng con. Xin cho chúng con kiên vững ba đức đối thần và biết phát triển các đức đối nhân. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, vì cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Đức Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Cô đơn, Sợ hãi và Yêu thương Feb 21

Bạn có bao giờ cảm thấy cô đơn tột cùng? Hoặc có bao giờ hoang mang và sợ hãi? Cô đơn thường liên quan lo sợ, và lo sợ có liên quan cô đơn. Phải chăng đó là một hệ lụy tất yếu?

“Cô đơn” khác “một mình”. Bạn có thể chỉ có một mình (sống một mình, ngồi một mình, làm việc một mình,…), nhưng có thể bạn không hề cô đơn, vì bạn đang “bận” suy nghĩ điều gì đó: Tìm tứ thơ, tìm ý nhạc, tìm cách xử lý vấn đề nào đó, đang nghĩ về người thân yêu, và nhất là đang cầu nguyện,… Nhưng khi bạn có điều gì buồn, bạn vẫn có thể cảm thấy cô đơn và trống trải, dù xung quanh bạn có rất nhiều người, bạn có thể cô đơn ngay trong đám tiệc, thậm chí cô đơn ngay trong gia đình mình.

Nỗi cô đơn thật đáng sợ biết bao!

CÔ ĐƠN

Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Chúa Giêsu tâm sự với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (Mt 26:38). Nỗi lo buồn quá lớn đến nỗi có thể “chết được”. Ngài muốn các môn đệ thân tín cùng canh thức để chia sẻ nỗi buồn “chết người” kia, nhưng bản chất con người yếu đuối, thân xác nặng nề, họ không đủ sức canh thức với Thầy mình nên họ đã “vô tư” lăn ra ngủ khò. Thấy vậy, Chúa Giêsu càng buồn hơn và càng cô đơn hơn.

Cô đơn nối tiếp cô đơn. Chúa Giêsu càng cô đơn hơn khi Giuđa lại nỡ lòng dùng chính nụ hôn để phản bội Ngài: “Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 13:18). Rồi nỗi cô đơn của Chúa Giêsu lại nhân lên khi thấy môn đệ thân tín nhất là Phêrô cũng đang tâm chối bỏ Thầy mình, không chỉ 1 lần mà đến 3 lần (x. Mt 26:69-75).

Cuối cùng, nỗi cô đơn ấy lên tột đỉnh khi Chúa Giêsu bị treo trên Thập giá, loại hình xử tử nhục nhã nhất thời đó chỉ dành cho những tử tội độc ác khét tiếng. Cô đơn quá, thế mà Chúa Cha vẫn lặng im, cho nên Ngài đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27:45). Điều này đã được tác giả Thánh vịnh 22 tiên báo: “Lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?” (Tv 22:2).

Đầu năm 2012, cái lạnh kéo dài cả tháng trời, hằng trăm người Âu châu đã chết vì lạnh cóng, lạnh đến nỗi những tảng đá trong suốt như pha lê. Những người Phi châu đang phải “sống mòn” trong nỗi cô đơn vì sự đói khát từng ngày. Nỗi cô đơn cũng đồng nghĩa với “cái lạnh tâm hồn”. Cái lạnh thời tiết không đáng sợ bằng cái lạnh trong tâm hồn. Người khác bị cô đơn cũng có phần trách nhiệm của chúng ta, đó liên đới trách nhiệm. Sự im lặng đáng sợ của chúng ta là cách chúng ta loại bỏ và giết chết người khác không cần vũ khí!

Thánh Thomas Aquinô nói: “Khi chúng ta cho là cô độc thì Thiên Chúa ở bên chúng ta. Khi tất cả đều bỏ chúng ta thì Thiên Chúa vẫn yêu thương chúng ta”. Còn Thánh Augustinô nói: “Ngài có đó khi ta tưởng mình đơn côi, Ngài nghe ta khi chẳng có ai đáp lại, Ngài thương ta khi tất cả đều hững hờ”. Chúng ta không là “cái đinh” gì, chỉ là bụi đất hèn mọn, thế mà Ngài vẫn yêu thương: “Thiên Chúa yêu chúng ta, ban ơn cho chúng ta mà hoàn toàn không muốn chúng ta báo đáp; phàm tất cả những gì của chúng ta, ngay cả cái yếu đuối, Ngài cũng yêu” (Thánh Têrêsa Hài Đồng). Thật may mắn và hạnh phúc!

Nỗi cô đơn của chúng ta chắc chắn không là gì so với nỗi cô đơn của Chúa Giêsu. Ngài không chỉ cô đơn từ vườn Ghết-si-ma-ni tới đồi Gôn-gô-tha, mà Ngài còn gánh chịu đủ loại nỗi cô đơn cho chúng ta dù chúng ta chỉ là những người hoàn toàn bất xứng.

Ngày nay Chúa cũng vẫn phải chịu cô đơn vì chúng ta. Tại sao? Vì chúng ta vẫn thờ ơ với Ngài, quay lưng lại với Ngài, bỏ ngoài tai những lời Ngài truyền dạy, không tìm đến tâm sự với Thánh Thể, không tắm gội trong Nước Hồng Ân Tha Thứ từ Bí tích Hòa giải, không thể hiện lòng thương xót và không quan tâm tha nhân. Chính chúng ta đã và đang làm nỗi cô đơn của Chúa Giêsu tăng theo cấp số nhân!

SỢ HÃI

Tại vườn Ghết-si-ma-ni, Chúa Giêsu chỉ cho 3 môn đệ thân tín nhất đi theo, đó là 3 trong 4 môn đệ đã được Ngài kêu gọi đầu tiên: Phêrô và hai anh em con ông Dêbêđê. Nhưng họ không an ủi Ngài mà lại làm cho Ngài cô đơn và sợ hãi hơn khi họ vẫn “vô tư”. Thời gian cứ ngắn dần. Toát mồ hôi hột. Giờ G sắp đến, giờ của sự ác. Nỗi sợ hãi bao trùm như màn đêm tối đen, và theo nhân tính, Chúa Giêsu cũng thấy run sợ trước viễn cảnh hãi hùng khi tưởng tượng những nhát búa căm hờn đóng những cây đinh ghim thấu chân tay Ngài, nên Ngài xin với Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39).

Vâng, “nếu có thể” thôi. Và đó chỉ là một giả thuyết. Chúa Cha vẫn im lặng như giả câm giả điếc, Chúa Giêsu càng sợ hãi, nhưng khi Ngài biết đó là Ý Cha và vì yêu thương nhân loại tội lỗi, Ngài lại thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng Ý Cha” (Mt 26:42). Một lời “xin vâng” vì tuân phục trong sự vui mừng chứ không hề miễn cưỡng.

Chúa Giêsu khi mặc xác phàm còn sợ hãi như vậy huống chi chúng ta, những phàm nhân “thuần túy”. Tuy nhiên, rất nhiều lần Chúa Giêsu động viên: “Đừng sợ!” (Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5; Mt 28:10; Mc 5:36; Mc 6:50; Lc 1:13 & 30; Lc 2:0; Lc 5:10; Lc 12:4; Lc 12:7; Lc 12:32; Lc 21:9; Ga 6:20). Chúa Giêsu hiểu và thông cảm với chúng ta, thế nên Ngài không chỉ động viên chúng ta can đảm “đứng dậy” mà Ngài còn hứa chắc nịch: “Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Ngài không bao giờ hứa suông, không bao giờ nuốt lời. Khi chúng ta cô đơn và sợ hãi, chính Ngài vác chúng ta trên vai. Hãy tín thác vào Ngài, vì Ngài dày kinh nghiệm đau thương, chắc chắn Ngài không bỏ rơi chúng ta phải “đơn thương độc mã” đâu. Vả lại, “không có Ngài thì chúng ta chẳng làm được gì” (Ga 15:5).

YÊU THƯƠNG

Con người đầy Tham-Sân-Si nên thường bị cô đơn và sợ hãi, do đó mà cần lắm tình yêu thương, vì chính Chúa Giêsu nhắn nhủ: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (Ga 13:34).

Nói yêu thương thì dễ, mà thực hành yêu thương thì không dễ chút nào: “Ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4:20).

Thiếu yêu thương đích thực thì con người rất dễ thay lòng đổi dạ, như trở bàn tay. Mới vài ngày trước, người ta lũ lượt, kẻ trước người sau, đua nhau lấy áo và lá lót đường cho Chúa Giêsu cưỡi lừa đi qua, họ tung hô vang dội: “Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời!” (Mt 21:9), thế mà chỉ vài ngày sau họ “lật mặt” ngay mà nói: “Hắn đáng chết!” (Mt 26:66) và đồng thanh hô to: “Đóng đinh hắn vào thập giá!” (Mt 27:22 & 23; Mc 15:13 & 14; Lc 23:21; Ga 19:6 & 15).

Ai muốn nói gì thì nói, Chúa Giêsu vẫn im lặng, ngay cả khi bị người ta nhục mạ và thách thức: “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!” (Mt 27::40). Ngay cả tên cướp cùng chịu án tử với Ngài cũng chưa biết thân mà vẫn gân cổ sỉ vả Ngài. Thế nhưng, tình yêu Thiên Chúa vẫn cuồng si, lòng thương xót của Chúa vẫn trước sau như một, thế nên Ngài không chỉ không oán trách mà còn xin với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).

Chúng ta cũng vậy, hằng ngày chúng ta thường xuyên nhục mạ và mưu sát Chúa Giêsu nhiều lần, thế mà Ngài vẫn cho là chúng ta lầm, là không biết việc mình làm. Kỳ diệu quá!

Lạy Thiên Chúa, nỗi cô đơn “chết người” và nỗi sợ hãi tột cùng vẫn không thể vượt qua Lòng Thương Xót vô biên của Chúa Giêsu, Con Yêu Dấu của Cha, xin thương giúp chúng con can đảm vượt qua mỗi khi gặp nghịch cảnh, dám chết cho tội mình, dám chết với Đức Kitô để chúng con có thể được phục sinh với Người. Xin Chúa thương xót và đồng hành với chúng con. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Lễ TRO – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Phong thánh cho chân phước Pedrom Calungsod Feb 21

PHILIPPINES (UCANews, 20-2-2012) – Người Công giáo vui mừng vì Tòa thánh vừa thông báo ngày phong thánh cho chân phước Pedrom Calungsod. Chân phước Pedrom Calungsod sẽ là vị thánh thứ nhì của Philippines.

ĐGM Jose Oliveros, GP Malolos, nói: “Chúng tôi rất vui vì chúng tôi sẽ có vị thánh thứ nhì là người Philippines”.

Ngài nói rằng thánh Calungsod, cũng như vị thánh đầu tiên của Philippines là Lorenzo Ruiz, là một giáo dân.

ĐGM Jose Oliveros nói: “Điều này cho thấy rằng giáo dân có thể đáp lại lời mời gọi nên thánh”.

Đức TGM Ramon Arguelles, TGP Lipa, nói rằng việc phong thánh cho giáo dân Calungsod là một dấu chỉ về “tầm quan trọng của các tín hữu không có chức thánh trong Giáo hội Á châu”.

Những người dự lễ tại Cebu đã hô to: “Viva San Pedro de Cebu” (Hoan hô Thánh Pedro của Cebu) sau khi tin được loan đi hôm Chúa nhật 19-2-2012.

ĐHY Emeritus Ricardo Vidal, TGP Cebu, viết trên Facebook: “Tôi xin cảm ơn mọi người đã góp phần trong việc phong thánh cho chân phước Pedro. Tôi hy vọng rằng phép lành của ngài sẽ giúp liên kết mọi người, đem lại hòa bình và hòa thuận”.

Giáo dân Calungsod là nhà truyền giáo tại Guam năm 1672, tử đạo khi mới 18 tuổi, được chân phước GH Gioan Phaolô II phong chân phước năm 2000.

ĐHY Angelo Amato, bộ trưởng Bộ phong thánh, xác nhận rằng ĐGH Biển Đức XVI sẽ chủ tế thánh lễ phong thánh cho giáo dân Calungsod và 6 vị khác vào ngày 21-10-2012.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Buôn bán người gia tăng ở Nepal Feb 21

Tác giả RUPA RAI (*)

Khó khăn về kinh tế đang làm gia tăng việc buôn bán người ở Nepal. Lạm phát tăng, kém phát triển kinh tế và xung đột giữa các đảng phái chính trị dẫn đến việc gia tăng số phụ nữ, các em trai và các em gái bị bán với nhiều dạng lạm dụng.

Khi không có dữ liệu về việc buôn bán người mang tính quốc tế ở Nepal, vẫn thiếu những dữ liệu đáng tin cậy về tình trạng vượt biên giới. Các nguồn tin cho biết hàng năm có 5.000-7.000 người bị bán ra khỏi Nepal.

Phân tích việc buôn bán người ở Nepal rất khó vì thiếu sự đồng tình về điều gây ra việc buôn bán người. Thỏa hiệp về việc buôn bán người của Hiệp hội Nam Á về Hợp tác Vùng miền xác định hẹp nghĩa việc buôn bán người là “di chuyển, mua bán phụ nữ và trẻ em để làm mại dâm”. Còn Bản dự thảo về việc buôn bán người của Liên hiệp quốc mô tả việc buôn bán người là lợi dụng hoặc bắt người khác làm mại dâm, cưỡng bức lao động hoặc bắt phục dịch, bắt làm nô lệ hoặc các động thái tương tự nô lệ và phục dịch. Tầm quan trọng của phần định nghĩa sau là áp dụng cho hết mọi người và có thể áp dụng đối với Nepal và Nam Á ngày nay, những nơi có nhiều phụ nữ, các em trai và các em gái, kể cả đàn ông đang bị buôn bán vì nhiều mục đích lạm dung khác nhau.

Nhiều báo cáo nghiên cứu cho thấy việc buôn bán người không thể so sánh trực tiếp vì dùng nhiều cách phân tích. Cho nên ước tính nhiều người bị buôn bán rất khác nhau, không thống nhất. Đối với Nepal và các nước Nam Á khác, nhiều cách ước tính đặc biệt đối với những năm 1990-2000 và nay đã lỗi thời. Do đó, cách tính nào liên quan tầm quan trọng của việc buôn bán người ở Nepal nên được cân nhắc cẩn trọng.

Trẻ em và phụ nữ đang là những nạn nhân của bọn buôn người ở Nepal. Ảnh minh họa

Nhiều nghiên cứu chỉ chú trọng tới việc buôn bán phụ nữ qua biên giới và/hoặc buôn bán trẻ em vào các động mại dâm vì lợi nhuận. Hơn nữa, trong khi có những thông tin tương đối đúng về các vùng và những con đường có chiều hướng buôn bán người, thường theo con đường phi pháp, thì có tương đối ít cuộc nghiên cứu về người bị bán hoặc kẻ buôn bán người.

Lịch sử Nepal và một số nước Á châu về việc buôn bán phụ nữ, nhất là các em gái bị bán làm mại dâm vì lợi nhuận mà thậm chí còn được “bỏ qua”. Với tình trạng thay đổi chính trị, kinh tế và xã hội, các dạng buôn bán người cũng tinh vi hơn. Gần đây, việc buôn bán người trở thành hiện tượng buôn bán người đa phương gia tăng kết hợp với các nhóm tội phạm có tổ chức. Nguyên nhân được xác định là do nghèo đói, thất nghiệp, di trú, hiện đại hóa và đô thị hóa.

Ngày nay, Nepal là gốc cung cấp trẻ em, phụ nữ và đàn ông bị bán sang các nước Nam Á (chủ yếu là Ấn Độ và Pakistan), vùng Á châu Thái bình dương (Malaysia, Hong Kong, Nam Hàn), các nước Trung Đông (Bahrain, Iraq, Israel, Kuwait, Qatar, Ả Rập Saudi, UAE), Mỹ châu và Âu châu. Đa số dân Nepal bị bán phải đi làm mại dâm ở Ấn Độ và Nepal. Họ bị bán vì nhiều mục đích khác nhau như ép hôn và phải phục dịch cho các gia đình, phải làm xiếc, làm việc ở nhà máy, lao động nông nghiệp, làm thợ hồ, làm thợ mỏ, buôn bán ma túy, làm trừ nợ, đi ăn xin, kể cả các mục đích phi pháp khác như làm con nuôi trá hình và hiến tạng.

Tác giả Rupa Rai- trưởng văn phòng Caritas ở Nepal về phát triển giới tính.

Tại 75 quận của Nepal, chính phủ đã xác định ít nhất 26 quận có chiều hướng buôn bán người. Theo ước tính có khoảng 100.000 tới 300.000 cô gái và phụ nữ bị từ Nepal tới các nước khác. Hàng năm, con số này có khoảng 5.000 tới 15.000 cô gái và phụ nữ bị bán qua biên giới Nepal, chủ yếu qua Ấn Độ, làm mại dâm.

Số người bị bán trong nước không biết chính xác. Chỉ riệng ở Kathmandu có khoảng 40.000 các em gái và phụ nữ tuổi từ 12 tới 30 làm việc tại 1.200 các nhà hàng và tiệm mát-xa. Một số khác bị bán làm mại dâm.

Theo ước tính của tổ chức phi chính phủ, mỗi năm có ít nhất 7.500 trẻ em trong nước bị bán làm mại dâm và 20.000 tới 25,000 em gái bị bán làm ô-sin tại các gia đình. Dữ liệu chính thức về các phụ nữ mất tích tại thung lũng Kathmandu cho thấy rằng trung bình có khoảng gần 500 người mất tích mỗi năm.

Theo dữ liệu cân nhắc tầng lớp xã hội và dân tộc, có tới 80% các cô gái và phụ nữ trẻ bị bán làm mại dâm đến từ Dalit, Janajati, và Madheshi. Có tới 94% là các cô gái trẻ từ 11 tới 25 tuổi. Theo số liệu chính thức của cảnh sát, từ 70% tới 90% là phụ nữ và các em gái còn sống sót. Tuy nhiên, động lực buôn bán người đang thay đổi và gia tăng về số đàn ông và các em trai bị bán sang Ấn Độ và các nước khác vì nhiều mục đích khác nhau, kể cả bóc lột sức lao động.

Theo văn hóa Nepal, chấn thương tâm lý thường do bị xã hội xa lánh sau khi họ được cứu thoát. Các chương trình động viên nhận thức có thể cứu vớt nhiều em gái. Chẳng hạn tổ chức Caritas của Nepal đang làm các chương trình phát thanh, những vở kịch đường phố và các tài liệu học hỏi. Tổ chức Caritas đã tổ chức những buổi cầu nguyện, có nhiều vị lãnh đạo các tôn giáo và tổ chức Ngày Quốc tế Phụ nữ bằng cách đề cao sự khốn khổ của các phụ nữ bị bán.

Nhiều hoạt động bảo vệ trẻ em và phụ nữ chống lại nạn buôn người đang được triển khai ở Nepal. Ảnh minh họa.

Ở Nepal, có một em gái mới được cứu thoát. Một thợ dệt thảm tham gia chương trình nhận thức của tổ chức Caritas về hoạt động buôn bán người đã tìm thấy em gái mất tích ở Nam Kathmandu. Phụ nữ này có thể phản ứng nhanh và thông báo cho nhóm người tìm thấy cô gái đó cách biên giới Ấn Độ không xa. Kẻ buôn bán đã bị bắt vô tù.

Để thúc đẩy bình đẳng giới tính và ngăn chặn việc buôn bán người, tổ chức Caritas của Nepal đang xác định các cộng đồng vá các gia đình có người bị bán, thành lập mạng lưới hoạt động và các trung tâm liên lạc, thành lập các nhóm hỗ trợ, chia sẻ các phương pháp, cùng với việc đánh giá cấp thời.

Các chương trình phát thanh giáo dục nhận thức về việc buôn bán người được phát thanh trên tần số Đài Phát thanh Nepal, loại hình này có nhiều người nghe. Chỉ trong năm 2010, đài đã có những chương trình dành cho các công nhân làm thảm, các học sinh và giáo viên. Hàng trăm người đã xem các vở kịch đường phố. Sổ tay “Tư vấn Ngăn chặn buôn bán người” (Advocacy on Prevention of Human Trafficking) cũng được tổ chức Caritas xuất bản năm 2010 và vẫn được phân phối cho các tổ chức phi chính phủ (NGO). Tổ chức Caritas tiếp tục đào tạo và giúp đỡ các gia đình về vấn đề đi lại và di trú an toàn.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ UCANews.com)

(*) Rupa Rai ở Kathmandu, Nepal, là trưởng văn phòng Caritas ở Nepal về phát triển giới tính. Bà cũng là người hợp tác với Chương trình Chống buôn bán Phụ nữ của tổ chức Caritas Xuyên Á châu (2008-2010).

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Xã hội  | Leave a Comment
Liên khúc Khổ đau Feb 20

Có lẽ không có đồng tiền nào trên thế giới lại “đặc biệt” như đồng đô-la Mỹ, “đặc biệt” không chỉ là tỷ giá đồng tiền đứng hàng thứ ba (sau đồng Bảng Anh và Euro) trên thế giới, mà đặc biệt vì trên đồng đô-la Mỹ có ghi câu: In God we trust (Chúng ta tin vào Thượng Đế, chúng tôi tín thác vào Thiên Chúa), cũng tương tự câu: Jesus, I trust in You (Lạy Chúa Giêsu, con tin Ngài; lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài) mà ngày nay rất phổ biến về Lòng Thương Xót Chúa. Cả đời Chúa Giêsu thực hành yêu thương và dạy người ta yêu thương, vì Ngài mệnh danh là Tình Yêu (x. 1 Ga 4:8 & 16). Ngài gọi “luật yêu thương” là điều răn mới: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34).

Chia tay luôn là điều buồn, thậm chí là rất đau khổ. Ai trong chúng ta cũng đã từng hơn một lần phải chia tay: Xa cha mẹ, xa con cái, xa người thân, xa người yêu, xa bạn thân, và nhất là bị phụ tình. Nhưng xa như vậy vẫn có thể còn gặp lại, có bị phụ tình thì vẫn có dịp gặp tình mới. Xa mà không thể gặp lại được chính là cái chết, lúc đó chúng ta còn đau khổ hơn rất nhiều. Ai đã từng mất cha mẹ, anh chị em, đặc biệt là mất mẹ, thì sẽ cảm thấy khoảng trống vô hạn tưởng chừng không gì khỏa lấp nổi. Những lúc đó trái tim nhói đau lắm. Tuy nhiên, vẫn không “nhằm nhò” gì so với nỗi đau của Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu Kitô biết mình sắp phải xa những người thân thiết mà Ngài yêu thương hết lòng, đó là chúng ta. Có bản tính nhân loại, Ngài cũng xúc động 2 lần khi thấy người ta thương tiếc Ladarô (x. Ga 11, 3 & 38), có lúc Ngài rất đau buồn, đau buồn đến nỗi Ngài đã phải thốt lên: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26:38). Vâng, nỗi đau quá lớn! Và Ngài không muốn xa rời chúng ta một giây phút nào nên Ngài đã thiết lập Bí tích Thánh Thể (x. Mt 26:26-29; Mc 14:22-25; Lc 22:19-20; 1 Cr 11:23-25), chính là Bí tích Yêu Thương, để có thể ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (x. Mt 28:20). Chưa xa mà Chúa đã rất nhớ các môn đệ, Chúa đã trút bầu tâm sự lần cuối bằng giọng buồn bã: “Từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26:29).

Với người đời thì “xa mặt cách lòng”. Chúa biết rõ nên Ngài “không dám” xa chúng ta, Ngài vẫn ở bên chúng ta, vậy mà thoáng một cái thì chúng ta lại quên Ngài. Quá tệ! Chúng ta có thể dễ “chê” ông Phêrô, ở bên Chúa hằng ngày mà vẫn… nhát đảm, chưa đánh đã khai! Với bản tính chất phác, thật thà, có sao nói vậy, và lại nóng tính hơn cả Trương Phi, chẳng thế mà khi thấy Thầy bị bắt, ông liền vung tay tuốt gươm ra, chém phải tên đầy tớ của thượng tế làm nó đứt tai (x. Mt 26:51), nên ông hùng hồn quả quyết chắc như đinh đóng cột: “Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã” (Mt 26:33). Ông còn tái khẳng định: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26:35). Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy. Ấy thế mà chỉ là mấy đầy tớ gái trong đêm tối chợt nhận ra ông trong số người đi theo Chúa Giêsu thì ông đã giật thót người và “vô tư” chối Chúa đến 3 lần (x. Mt 26:69-75). Nếu là chúng ta chắc là còn tệ hơn, “giả nai” và bỏ của chạy lấy người thôi!

Thánh Phêrô “đại diện” cho chúng ta trong việc… chối Chúa. Chúa bị phụ tình. Tất nhiên Ngài đau lắm, Ngài đau không chỉ một lần mà đau hàng tỷ lần vì nhân loại hằng ngày phụ tình Ngài. Khi bằng an thì Thầy Thầy con con – có thể hy vọng được hưởng “ké” gì đó; khi Thầy bị bắt thì trò chạy mất dép, chối leo lẻo – vì quá thất vọng, bị vỡ mộng, vậy là… hết!.

Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Chúa Giêsu đã toát mồ hôi hột vì quá run sợ và quá đau khổ nên Ngài đã phải hai lần thốt lên: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39), và “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26:42). Nhưng Ngài chấp nhận vì tuân phục, vui nhận chứ không miễn cưỡng, không phải là không nhận cũng không được.

Nỗi đau này tiếp nỗi đau khác. Không chỉ bị phụ tình mà Ngài còn bị lợi dụng khi Giuđa nhân danh điều tốt để làm điều xấu: “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy!” (Mt 26:48). Nụ hôn là biểu hiện yêu thương mà lại bị biến thành dụng cụ phản trắc. Chúa Giêsu đã biết trước: “Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 13:18). Nhưng một lần nữa, Ngài lại bị đau khổ đến tột cùng! Chúng ta đừng vội trách ông Giuđa vì chúng ta cũng đã, đang và sẽ lợi dụng lòng nhân hậu của Chúa, dám nhân danh lòng đạo đức mà cứ tưởng mình vì Chúa, và dám nhân danh lòng tốt mà làm tổn hại người khác bằng nhiều cách.

Sau khi họ bắt trói Chúa đi, họ hành hạ và sỉ nhục Chúa Giêsu đủ cách, họ còn khạc nhổ vào mặt Ngài và đấm đánh Ngài. Có kẻ lại tát Ngài và nói: “Ông Kitô ơi, hãy nói tiên tri cho chúng tôi nghe đi: Ai đánh ông đó?” (Mt 26:67-68). Nếu có ở đó, chắc hẳn chúng ta cũng phải “nóng gáy” mà lầm bầm theo kiểu nói ngày nay: “Đồ đểu!”.

Tột đỉnh đau khổ, tột đỉnh nhục nhã, tột đỉnh cô đơn, vì Chúa Giêsu không còn ai dám nhận mình là người quen, có người chỉ dám đứng xa xa xem sao. Thế nên Chúa Giêsu lại thốt lên: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni – Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? (Mt 27:45). Máu ra nhiều, Ngài kêu khát thì người ta lại nỡ lòng cho Ngài nếm giấm chua (x. Ga 19:28-29). Và thế là kết thúc bản hùng ca Liên Khúc Khổ Đau, thế là hoàn tất!

Lòng Thương Xót Chúa quá kỳ lạ, quá cao vời, quá mầu nhiệm. Ước gì mỗi người chúng ta khả dĩ cảm nhận Tình Yêu ấy như Chân phước Lm Ludovico Casoria: “Tình yêu Chúa Kitô đã chạm đến trái tim tôi” (Christ’s love has wounded my heart).

Người ta thường nói: “Yêu là khổ, không yêu thì lỗ, thà chịu khổ hơn chịu lỗ”. Nhưng đó chỉ là nói… cho vui. Thực tế có nhiều người “bị lỗ” liền tìm cách hại người không yêu mình, thậm chí là giết chết người đó. Còn với Chúa thì không đùa giỡn, rất thật: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9:23). Thánh Phaolô kinh nghiệm đầy mình: “Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1:24). Yêu là phải khổ, như một quy luật tất yếu muôn thuở, không thể nói suông, bởi vì “nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta” (Rm 6:8).

Chắc hẳn nhiều người còn nhớ các vĩ nhân là chính trị gia Mohandas Karamchand Gandhi và mục sư Martin Luther King.

Mohandas Karamchand Gandhi (2.10.1869 – 30.1.1948) được dân Ấn Độ tôn vinh là thánh nhân, là người cha của dân tộc, vì ông đã hết lòng vì nhân dân đến nỗi thân xác ông ốm o gầy mòn. Lúc 15 tuổi, ông thiếu tiền nên ăn cắp chiếc đồng hồ vàng của người cha. Lương tâm ông không ngừng bị day dứt, nhưng ông không dám nói thẳng với cha mà viết vào giấy rồi đưa cho cha. Ông đứng run lẩy bẩy chờ hình phạt. Người cha xem giấy xong liền xé nát, rồi nói: “Thôi được, dù sao con cũng biết nhận lỗi”. Sau đó, người cha ôm hôn đứa con thắm thiết.

Ông là người giải hòa giữa người Hindu và Hồi giáo. Phương pháp hành động của ông là khuyến khích, phi bạo lực chân thật – gọi là Satyagraha. Ông bị bắt nhiều lần ở Anh và Nam Phi vì hoạt động chính trị, giành độc lập cho Ấn Độ năm 1947. Nhưng ngày 30.1.1948, một người Hindu cuồng tín là Nathuram Godse đã đâm ông 3 nhát dao oan nghiệt khiến ông gục ngã. Trước khi chết, ông còn thốt lên: “Chúa ơi! Chúa ơi!” và xin tha thứ cho người sát hại mình. Ông thật xứng đáng được người dân Ấn Độ tôn xưng là “Mahatma” (Tâm hồn Vĩ đại).

Martin Luther King (15.1.1929 – 4.4.1968), người Mỹ da đen, đoạt giải Nobel Hòa bình năm 1964, khi ông mới 35 tuổi. Năm 1957, ông thành lập tổ chức Southern Christian Leadership Conference (Hội nghị Lãnh đạo Kitô giáo Nam phương), lý tưởng của tổ chức này ông rút ra từ Kitô giáo, cách hoạt động được áp dụng theo kiểu của Gandhi.

Trong những năm hoạt động từ 1957–1968, ông đi nhiều nơi và viết nhiều sách báo để bảo vệ công lý. Ông hướng dẫn 250.000 người biểu tình ở Washington, D.C., và hô to khẩu hiệu “Tôi có Mơ ước” (I Have a Dream). Ông hoạt động chống kỳ thị chủng tộc nên bị bắt 20 lần và bị tấn công 4 lần, được tạp chí Time bình chọn là Nhân vật của năm 1963. Ông không chỉ là biểu tượng lãnh đạo của người Mỹ da đen mà còn là nhân vật của thế giới. Ông bị ám sát ngày 4.4.1968 tại phòng khách sạn ở Memphis, Tennessee, còn nhà ông bị bỏ bom.

Thánh linh mục Maximilien Kolbe đã bằng lòng chết thay cho một người bạn tử tù, chân phước Gioan-Phaolô II đã đích thân đến tận nhà tù để tha thứ cho chính kẻ đã ám sát ngài. Và còn nhiều những tâm hồn cao thượng chứa đầy tình yêu thương như vậy. Đó là những chứng nhân của Lòng Thương Xót Chúa – hôm qua, hôm nay, và mãi mãi…

Những con người như vậy đều có lý tưởng sống cao, đồng thời cũng có lòng yêu thương kỳ lạ, dám sống “khác người”, nhưng Đức Kitô còn “khác người” hơn nhiều – như trong ba dụ ngôn điển hình về Lòng Thương Xót: con chiên bị lạc (Ga 15:4-7); đồng bạc bị mất (Ga 15, 8-10); người cha nhân hậu (Ga 15:11-31). Họ dám xả thân vì người mình yêu vì họ khao khát yêu thương. Họ không chỉ vĩ đại mà thực sự là thánh nhân vậy. Chính Chúa Giêsu đã xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13).

Lạy Thiên Chúa là Vua các vua nhưng dịu hiền, là Thẩm phán tối cao công minh nhưng nhân hậu, là người Cha yêu thương vô cùng, chúng con thật bất xứng. Vạn lạy Ngài, xin xót thương và tha thứ, “chúng con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa” (Ga 15:18-19). Nhưng chúng con vững tin vào Tình Chúa bao la và luôn tín thác vào Lòng Thương Xót của Ngài. Từ nay, “xin tạo cho chúng con tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho chúng con nên chung thuỷ và ban lại cho chúng con niềm vui được Ngài cứu độ” (Tv 51:12 & 14). Chúng con muốn trở thành lưỡi đòng đã vô tình đâm thấu Thánh Tâm Chúa, và xin cho chúng con ở trong đó mãi mãi. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

Thom. Aq. TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Liên khúc Yêu thương Feb 20

Có lẽ nhiều người còn nhớ truyện “Những con chim ẩn mình chờ chết” (còn tên bản dịch Việt ngữ khác là “Tiếng chim hót trong bụi mận gai”), nguyên tác Anh ngữ là The Thorn Birds (1977) của nhà văn Colleen Mc Cullough (Úc), và truyện của bà đã được chuyển thể thành phim.

Ở đây tôi không muốn nói đến cốt truyện hoặc những gì liên quan đến The Thorn Birds mà chỉ muốn nói đến một loài chim kỳ lạ. Truyền thuyết kể có loài chim chỉ hót một lần trong đời rồi chết, tiếng hót của nó hay hơn tất cả bất kỳ loài chim nào khác. Loài chim này bắt đầu biết bay là nó đi tìm những cây có gai nhọn để làm tổ. Một ngày nào đó, nó bay lao mạnh vào gai nhọn nhất cho gai xuyên qua ngực, và nó hót vang chỉ một lần trước khi chết. Vâng, loài chim đó hoàn toàn chết vì yêu, vui vì được chết cho tình yêu!

Đó là tiếng hót nồng nàn của ngôn ngữ yêu thương, là một dạng “thú đau thương” mang tính thần bí mà nếu không yêu thì không thể hiểu nổi. Chính Đức Kitô là con người thần bí như vậy, có thể mượn hình ảnh loài chim kia để nói về Ngài vậy. Cả cuộc đời ngắn ngủi của Ngài tại thế là một chuỗi dài tha thứ và là một “liên khúc yêu thương” bất tận. Đại văn hào Victor Hugo có cách so sánh và xác quyết: “Ai chết cho tình yêu là sống trong tình yêu”. Tình yêu thương luôn kỳ diệu và khó hiểu!

Trong trình thuật Ga 13:1-20 kể lại việc Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ trong đêm Thứ Năm Tuần Thánh, trước khi Ngài đi chịu chết. Ngài làm thật chứ không nói suông! Thấy Chúa Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau, thánh Phêrô ngạc nhiên và không dám tin vào mắt mình nên mới hỏi: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”. Đức Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu”. Ông Phêrô lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!”. Đức Giêsu nói: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy”. Nghe vậy, ông Phêrô nói ngay: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa”. Chắc là lúc đó Chúa nhìn ông Phêrô mà thương lắm, chắc cũng vừa cười vừa gật gật cái đầu nữa.

Rửa chân cho các ông xong, Chúa Giêsu mặc áo, về chỗ, và kết luận: “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi. Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!” (Ga 13:14-17).

Một con người được tôn xưng là Chúa, là Thầy, vậy mà lại hạ mình xuống làm công việc của một tôi tớ. Chúa Giêsu đã thực hiện những điều Ngài nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28). Yêu thương và tha thứ luôn có hệ lụy với nhau. Cựu ước dạy: “Răng đền răng, mắt đền mắt, tay đền tay, chân đền chân, chỗ gãy đền chỗ gãy, mạng đền mạng” (x. Xh 21:4; Lv 24:20; Đnl 19:21) . Nhưng Chúa Giêsu dạy: “Một ngày tha bảy lần” (x. Lc 17:4), và “Tha bảy mươi lần bảy” (x. Mt 18:22). Làm sao hiểu ngay và hiểu hết vì Chúa Giêsu luôn có những động thái “không giống ai” và quá đỗi ngược đời: “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên” (Mt 23:11-12).

Cũng ngay đêm đó, sau khi rửa chân, Chúa Giêsu lại thiết lập Bí tích Thánh Thể để có thể ở lại với con người mãi mãi, như Ngài đã hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Chắc hẳn không còn cách nào tuyệt vời hơn, vì Ngài nuôi sống chúng ta bằng chính Máu Thịt mình. Và đó cũng chỉ vì quá yêu chúng ta, dù chúng ta là tội nhân. Bản chất tình yêu là CHO nhiều hơn NHẬN, không muốn xa người mình yêu một giây phút nào.

Thiên Chúa yêu thương con người quá nhiều nên tha thứ cho chúng ta tất cả nhưng chúng ta lại làm ngơ, cứ nghĩ đó là “điều tất yếu”, Chúa có trách nhiệm phải làm vậy với mình. Do đó mà chúng ta khó tha thứ, thậm chí là không tha thứ cho nhau, dù chỉ là điều nhỏ mọn (x. Mt 18:21-35).

Trong cuốn Healing the Original Wound (Chữa lành Vết thương Nguyên thủy) có câu: “Thiên Chúa đầy lòng trắc ẩn, luôn tìm cách đến với những người lầm đường lạc lối và bị bỏ rơi”. Vì yêu thương mà Ngài tha thứ, và vì tha thứ mà Ngài càng yêu thương. Đức Kitô đã vâng lời cho đến chết, mà lại chết nhục nhã trên Thập giá – loại hình phạt nhục nhã nhất thời đó. Đó là “vòng luẩn quẩn bác ái” không dễ hiểu hết ngay được nếu không có thời gian và cảm nghiệm nhờ hồng ân Thiên Chúa. Thánh Phaolô xác định: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13:8).

Mỗi giây phút qua đi là mỗi bước con người xa dần sự sống để tiến gần sự chết. Trong con người luôn có sự giằng co giữa cái Thiện và cái Ác, mà Ánh sáng và Bóng tối luôn đối nghịch nhau, có cái này thì không có cái kia. Trong cuốn Weaving Faith and Experience (Thêu dệt Đức tin và Cảm nghiệm) có câu: “Thành công và thất bại hàng ngày có thể là những lời mời gọi chúng ta kết hiệp mật thiết hơn với Thiên Chúa nếu chúng ta biết nhìn”. Vấn đề là con người có nhận ra Ý Chúa hay không.

Thế thái nhân tình luôn nhiêu khê và xảy ra hàng ngày, Đức Kitô cũng đã trải nghiệm điều đó: “Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 13:18). Nhưng đôi khi con người cầu nguyện mà như ra lệnh cho Chúa, cứ nghĩ xin là phải được, không được thì “bye” ngay. Con người quá yếu đuối nên dễ nản chí sờn lòng. Trong cuốn God, Help Me (Lạy Chúa, xin phù trợ con) có câu: “Ngay khi chúng ta cố gắng cầu nguyện mà Thiên Chúa có vẻ vẫn không xuất hiện thì cũng đừng ngưng cầu nguyện”. Chúa biết mỗi người thế nào nên Chúa không cần thử thách, Chúa chỉ muốn con người ý thức mà tìm về với Ngài, và Ngài cũng muốn con người tự lập công thôi.

Lạy Chúa, xin dạy chúng con luôn sẵn sàng biết yêu thương trọn vẹn và vô điều kiện. Vâng, “xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe” (1S 3:10). “Xin thêm đức tin cho chúng con” (Lc 17:5), vì “không có Ngài thì chúng con không làm được gì” (Ga 15:5). Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

Thom. Aq. TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Ngẫu tượng Feb 20

Tác giả Douglas Wilson

Thờ ngẫu tượng là thần tượng, là sùng bái ai đó hoặc cái gì đó ngoài Thiên Chúa. Có lần Richard Baxter nói: “Hầu như không thể tin được bao nhiêu lần ma quỷ đã lợi dụng khi nó làm cho tội lỗi thành vấn đề tranh cãi: một số thuộc về trí óc, một số thuộc về thứ khác; bạn thuộc ý kiến này, còn tôi thuộc ý kiến kia”. Không gì rõ ràng hơn khi chúng ta tranh luận về việc dùng ảnh tượng khi cầu nguyện.

Thánh Gioan cảnh báo hãy xa tránh ngẫu tượng, vì có thể các Kitô hữu không muốn làm vậy: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, hãy tránh xa các tà thần!” (1 Ga 5:21). Chúng ta nên phân biệt những kiểu thờ ngẫu tượng. Với tôi, tôi hiểu thờ ngẫu tượng là đặt một thụ tạo vào chỗ mà chỉ có Thiên Chúa  mới xứng đáng. Điều này xảy ra khi chúng ta dùng hình ảnh trong khi cầu nguyện, nhưng không dính líu tới ảnh tượng. Thờ ngẫu tượng khác hơn thế.

1. Ngẫu tượng vô hình. “Vậy anh em hãy giết chết những gì thuộc về hạ giới trong con người anh em: ấy là gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam; mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng” (Cl 3:5). Thờ ngẫu tượng là vậy, nghĩa là các vật mà con người ham muốn đã chiếm vị trí sùng kính trong tâm hồn thay vì Thiên Chúa. Chúng ta không nghĩ điều này chỉ xảy ra nếu con người tham lam bắt đầu sùng bái vật chất là tiền bạc, của cải,… Sự thật là việc sùng bái như vậy là thờ phượng ngẫu tượng. Bản chất tham lam của con người có thể sùng bái bất cứ thứ gì: “Ngươi không được ham muốn nhà người ta, ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta” (Xh 20:17). Khi bạn làm vậy là bạn tôn thờ ngẫu tượng.

Rất khó phá vỡ ngẫu tượng trong lòng mình. Tâm hồn xấu xa vì bị lừa, gặp thử thách, vì sùng bái ảnh tượng quá sẽ biến thành thờ ngẫu tượng. Chúng ta dễ quên rằng ảnh tượng là vật giúp ta nhớ đến chính nhân vật nào đó. Ví dụ, ảnh tượng người quá cố không là người quá cố mà chỉ nhắc nhở chúng ta nhớ đến con người thật của người quá cố.

Sự thờ ngẩu tượng tham lam không cần hình ảnh, nhưng nó khiến người ta say mê. Một phụ nữ nhìn vào cuốn catôlô mà ham muốn cũng là đang mua sắm. Họ đang tôn thờ ngẫu tượng của họ khi khao khát chiếc áo đầm hay đôi giày thời trang nào đó. Thậm chí có những thứ mua về mà không dùng đến.

Thích nhìn hình ảnh hoặc xem phim “đen” là một dạng thờ ngẫu tượng. Sự khao khát xâm chiếm tâm hồn họ. Ngày nay, kỹ thuật và công nghệ cao, chỉ cần một cái nhấp chuột là tất cả hiện ra trên màn hình máy vi tính hoặc điện thoại di động.

Các loại thờ ngẫu tượng tương tự như vậy là có hình ảnh mà lại không có hình ảnh (vô hình). Có vô vàn dạng thờ ngẫu tượng trong cuộc sống hàng ngày mà chúng ta tưởng không là thờ ngẫu tượng!

2. Thờ ngẫu tượng khi giao tiếp với tà thần. Rõ ràng Kinh thánh dạy chúng ta rằng thờ các tà thần là thờ ngẫu tượng:“Các ngươi không được hướng về các tà thần, không được đúc tượng thần mà thờ. Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi (Lv 19:4). Trong ví dụ này, vấn đề không là các ảnh tượng, mà vấn đề là những gì các ảnh tượng đó miêu tả. Chính các thần không quan tâm ảnh tượng, nhưng họ khuyến khích dùng ảnh tượng. Các ảnh tượng đó miêu tả những cái sai.

Theo từ ngữ Kinh thánh, tà thần không là vật tương tự như các thần không hiện hữu. Có những thực tế tâm linh phía sau các ảnh tượng đó.

“Về việc ăn thịt cúng, chúng ta biết rằng ngẫu tượng chẳng là gì trên thế gian, và cũng chẳng có thần nào ngoài Thiên Chúa độc nhất. Thật thế, mặc dầu người ta cho là có những thần ở trên trời hay dưới đất. Quả thật, thần cũng lắm mà chúa cũng nhiều, nhưng đối với chúng ta, chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta; và cũng chỉ có một Chúa là Đức Giêsu Kitô, nhờ Người mà vạn vật được tạo thành, và nhờ Người mà chúng ta được hiện hữu” (1 Cr 8:4-6).

Thánh Phaolô xác định: “Đồ cúng là cúng cho ma quỷ, chứ không phải cho Thiên Chúa; mà tôi không muốn anh em hiệp thông với ma quỷ” (1 Cr 10:20). Ma quỷ không hiện hữu. Chúng là cái mà chúng muốn là. Ví dụ rõ nhất về loại này là khi thánh Phaolô gặp một cô gái tại Philippi: “Một hôm, đang khi chúng tôi đi tới nơi cầu nguyện, một đầy tớ gái đón gặp chúng tôi; cô ta bị quỷ thần ốp, và thuật bói toán của cô làm lợi nhiều cho các chủ nhân của cô” (Cv 16:16). Người Hy Lạp nói rằng cô ta bị thần mãng xà (python, theo thần thoại Hy Lạp) khiến cô ta hiến dâng cho thần Apollo. Hoặc như Kitô giáo nói là bị quỷ ám (demon-possessed).

Với sự tôn thờ ngẫu tượng như vậy, các ảnh tượng không bị loại bỏ vì chúng chính xác, nhưng vì chúng miêu tả chính xác các tà thần. Đối với người thờ ngẫu tượng, chúng chính xác vì chúng mở ra lối tới “các thực tế tâm linh” mà chúng thực sự thể hiện: “Người ta lấy gỗ làm củi: phần để sưởi, phần để nhóm lửa nướng bánh, rồi phần nữa để tạc tượng thần mà lạy, làm một ông thần mà thờ” (Is 44:15), vì thế: “Kẻ nào bám lấy Ta để được che chở, thì hãy làm lành với Ta; với Ta, nó hãy làm lành” (Tv 115:5).

3. Thờ ngẫu tượng khi tin dị đoan. Tôi không muốn mất nhiều thời gian ở đây, vì đây không là phạm trù Kinh thánh quan trọng. Nhưng giả sử ai đó tạo ra vị tiểu thần Kwaanza, hoặc dùng tượng nhỏ Hummel, một ca sĩ hoặc một diễn viên nào đó, để thể hiện “tinh thần phục hồi” hoặc điều gì đó trong khi suy niệm buổi sáng. Những thứ này không là thực tế tâm linh phía sau chúng, và chỉ là ngu xuẩn. Nhưng chúng vẫn là sự thờ ngẫu tượng – ở mức tối thiểu theo ý nghĩa đầu tiên tôi muốn nói. Dạng thần tượng âm nhạc cũng có chút liên quan thờ ngẫu tượng!

4. Thờ ngẫu tượng là thờ Thiên Chúa thật qua hình ảnh. Hãy lưu ý Aaron nói khi ông quy tụ mọi người vây quanh con bò vàng:

“Dân thấy ông Môsê lâu quá không xuống núi, bèn tụ họp bên ông Aharon và nói với ông: “Xin ông đứng lên, làm cho chúng tôi một vị thần để dẫn đầu chúng tôi, vì chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho cái ông Môsê này, là người đã đưa chúng tôi lên từ đất Ai Cập. Ông Aharon nói với họ: “Hãy gỡ các khuyên vàng mà vợ và con trai con gái anh em đeo ở tai, rồi đem đến cho tôi. Toàn dân gỡ các khuyên vàng đeo tai và đem đến cho ông Aharon. Ông lấy vàng từ tay họ trao cho, đem đúc và dùng dao mà gọt đẽo thành một con bê. Bấy giờ họ nói: “Hỡi Ítraen, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai Cập”. Thấy vậy, ông Aharon dựng một bàn thờ trước tượng con bê, rồi hô to: “Mai có lễ kính Đức Chúa!”. Ngay hôm sau, họ dậy sớm, dâng tiến những của lễ toàn thiêu và những lễ vật kỳ an. Dân ngồi xuống ăn uống, rồi đứng lên bày trò vui chơi” (Xh 32:1-6).

Chúng ta có thể phân biệt sự tôn thờ tà thần với các ảnh tượng thật (mục 2 ở trên), Thiên Chúa thật với các ảnh tượng sai (mục 4 ở trên). Nhưng điều này không phân biệt giữa sự thờ ngẫu tượng và sự phi thờ ngẫu tượng (idolatry and non-idolatry). Kinh thánh kết án cả hai, với cùng một cách nói. Khi dân Israel bị cấm làm các ảnh tượng, họ bị cấm làm các ảnh tượng Thiên Chúa thật cũng như những thứ khác mà họ tạo ra rồi bái lạy với danh nghĩa tà thần: “Đức Chúa phán với anh em từ trong đám lửa: anh em nghe thấy tiếng nói nhưng không thấy hình bóng nào, chỉ có tiếng thôi” (Đnl 4:12).

Chúng ta biết điều này vì khi thánh Phaolô thảo luận “sự cố” thờ bò vàng, ngài gọi đó là tôn thờ ngẫu tượng: “Anh em đừng trở thành những kẻ thờ ngẫu tượng, như một số trong nhóm họ, theo lời đã chép: Dân đã ngồi xuống để ăn uống, rồi lại đứng lên chơi đùa. Ta đừng gian dâm, như một số trong nhóm họ đã gian dâm: nội một ngày, hai mươi ba ngàn người đã ngã gục” (1 Cr 10:7-8).

Cho nên thánh Phaolô kết án dạng đó là thờ ngẫu tượng. Cái gì? Vì sự hiện diện của con bò, không vì sự hiện hữu của lời cầu khấn ngẫu tượng. Nghĩa là những người tôn thờ Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa thật, ở dạng ảnh tượng, cũng vẫn phạm tội thờ ngẫu tượng (guilty of idolatry).

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Dougwils.com)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Chuyện lạ từ Bích họa Bữa Tiệc Ly và Danh họa Leonardo Da Vinci Feb 20

Khoảng tháng Ba, tháng Tư hằng năm, vào những ngày nắng nóng gay gắt và oi ả nhất, người Công giáo nói riêng và các giáo hội có niềm tin Kitô khác long trọng kính nhớ và tưởng niệm Cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô. Và danh họa Leonardo Da Vinci có công lớn khi tạo nên bức họa Bữa Tiệc Ly kỳ diệu…

Leonardo Da Vinci

Danh họa Leonardo Da Vinci vẽ bích họa Bữa Tiệc Ly (The Last Supper) mất 3 năm liền – không là 7 hoặc 20 năm như một số người nghĩ. Ðó là bức tranh vẽ mô tả Chúa Giêsu và 12 môn đệ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Ngài bị môn đệ Giuđa phản bội. Bữa Tiệc Ly vào chiều tối một ngày thứ Năm, thời điểm Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức Linh mục tư tế.

Leonardo đã tốn nhiều công phu đi tìm người mẫu. Giữa hàng ngàn thanh niên ông mới chọn được một chàng trai có gương mặt thánh thiện, một tính cách thanh khiết tuyệt đối làm người mẫu vẽ Chúa Giêsu. Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt 6 tháng liền trước chàng trai để hình ảnh Chúa Giêsu có thể hiện ra trên bức họa.

Những năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 11 môn đệ, chỉ còn Giuđa – người môn đệ đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc. Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ thâm độc. Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ sẵn sàng bán đi người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình…

Cuộc tìm kiếm dường như vô vọng. Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy vẫn chưa đủ để biểu lộ cái ác của Giuđa. Một hôm, Da Vinci được thông báo có một người mà ngoại hình có thể đáp ứng yêu cầu của ông. Người đó đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử hình vì tội giết người và nhiều tội ác tày trời khác.

Da Vinci lập tức lên đường đi Rôma. Trước mặt ông là một gã đàn ông nước da đen sạm với mái tóc dài bẩn thỉu xoã xuống, một khuôn mặt xấu xa, hiểm ác, hiển hiện rõ tính cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá. Ðúng, đây là Giuđa!

Ðược phép đặc biệt của Đức Vua, người tù được đưa tới Milan, nơi bức tranh đang vẽ dang dở. Mỗi ngày tên tù ngồi trước Da Vinci và người hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với công việc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc.

Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái ác một thời gian dài, Vinci quay sang bảo với lính gác: “Các anh đem người này đi đi…”. Lính canh túm lấy kẻ tử tù nhưng hắn đột nhiên vùng ra, lao đến quỳ xuống bên chân Da Vinci và khóc nức lên: “Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn tôi! Ngài không nhận ra tôi sao?”.

Da Vinci quan sát kẻ mà 6 tháng qua ông đã liên tục nhìn mặt, rồi ông đáp: “Không, tôi chưa từng nhìn thấy anh cho đến khi anh được đưa đến từ hầm ngục Rôma”. Tên tử tù kêu lên: “Ngài Vinci, hãy nhìn kỹ tôi đi! Tôi chính là người mà ngài đã chọn làm mẫu để vẽ Chúa Giêsu đây…”.

Câu chuyện này có thật, như bích họa Bữa Tiệc Ly là có thật. Chàng trai từng được chọn làm hình mẫu vẽ Chúa Giêsu đã tự biến mình thành hình tượng của kẻ phản bội ghê gớm nhất trong lịch sử chỉ sau một thời gian ngắn!

Leonardo di ser Piero da Vinci sinh ngày 15-4-1452 tại Anchiano (Ý), mất ngày 2-5-1519 tại Amboise (Pháp). Ông là một họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhà giải phẫu, nhà sáng tạo và là một triết gia tự nhiên. Ông được coi là một thiên tài toàn năng người Ý. Tên thành phố Vinci, nơi sinh của ông, nằm trong lãnh thổ của tỉnh Firenze, cách thành phố Firenze 30 km về phía Tây, gần Empoli, cũng là họ của ông. Người ta gọi ông ngắn gọn là Leonardo vì Da Vinci có nghĩa là “đến từ Vinci”, không phải là họ thật của ông. Tên khai sinh là Leonardo di ser Piero da Vinci có nghĩa là “Leonardo là con của Ser Piero, đến từ Vinci”. Ông nổi tiếng với những bức hoạ cổ điển của mình như bức Mona Lisa, bức Bữa Tiệc Ly,…

Ông là người có những ý tưởng đi trước thời đại của mình, đặc biệt là sự sáng chế máy bay trực thăng, xe tăng, cách sử dụng hội tụ năng lượng mặt trời, máy tính, sơ thảo lý thuyết kiến tạo địa hình, tàu đáy kép (double hull), cùng nhiều sáng chế khác, khó có thể liệt kê hết ở đây. Một vài thiết kế của ông đã được thực hiện và khả thi ngay lúc ông còn sinh thời. Ứng dụng khoa học trong chế biến kim loại và trong kỹ thuật ở thời đại Phục Hưng còn đang ở trong thời kỳ trứng nước. Thêm vào đó, ông có đóng góp rất lớn vào kiến thức và sự hiểu biết trong lĩnh vực giải phẫu học, thiên văn học, xây dựng dân dụng (civil engineering), quang học và nghiên cứu về thủy lực. Những sản phẩm lưu lại trong cuộc đời ông chỉ còn lại vài bức hoạ, cùng với một vài quyển sổ nháp tay (rơi vãi trong nhiều bộ sưu tập khác nhau các sáng tác của ông), bên trong chứa đựng các ký hoạ, minh hoạ về khoa học, và bút ký.

Bức họa Bữa Tiệc Ly

Nội dung: Bức tranh mô tả một sự kiện tôn giáo trong Kinh Thánh: Giuđa Iscariôt – một môn đệ của Chúa Giêsu – đã tố giác với nhà cầm quyền La Mã để bán đứng thầy của mình chỉ với 30 đồng bạc. Chính giữa bức tranh là chúa Giêsu đang nói với các môn đệ: “Trong anh em có người sẽ bán rẻ Thầy”. 12 môn đệ ngồi đồng bàn, mỗi người một vẻ mặt khác nhau: 3 người thì thầm bàn bạc, 3 người tỏ vẻ giận dữ (trong đó có 1 người đập mạnh tay xuống bàn), 1 người lộ vẻ nghi ngờ, 1 người tỏ ra ngạc nhiên, 1 người ngồi ngay ngắn tỏ lòng trung thành, 2 người lộ vẻ xúc động. Chỉ có một môn đồ mặt tái nhợt, lưng hơi ngả về sau, tay nắm chặt túi tiền – đó chính là Giuđa, người mặc áo xanh thứ tư  từ bên trái, tay cầm bọc tiền, có thể là tiền bán Chúa. Sau lưng ông là một khoảng tối, còn sau lưng Chúa Giêsu là ô cửa đầy ánh sáng. Những tia sáng chiếu vào gương mặt Chúa Giêsu làm ánh lên vẻ điềm tĩnh, hiền từ mà cương nghị. Sự tương phản mạnh mẽ này đã biểu đạt được sự căm giận sâu sắc của tác giả đối với lũ gian ác, sự ngưỡng vọng đối với chính nghĩa.

Nghệ thuật: Trước Vinci đã có nhiều họa sĩ nổi tiếng đã vẽ đề tài này, tuy nhiên họ đều thất bại. Bích họa của Da Vinci nổi tiếng nhất vì hai lý do: Thứ nhất, lần đầu tiên buổi tiệc ly được vẽ với các nhân vật hết sức sống động như người thật. Mỗi môn đệ tỏ một thái độ  khác nhau khi nghe Chúa báo tin có người phản bội. Người thì bàng hoàng, người thì muốn ngất xỉu (thánh Gioan, người ngồi bên phải Chúa), mấy người khác ngạc nhiên hỏi nhau. Thứ hai, khả năng thể hiện luật viễn cận của Da Vinci trong bức họa rất tuyệt vời, mọi điểm trên bức tranh đều tụ về một điểm chung là khuôn mặt của Chúa. Một trong những nguyên nhân gây thất bại ở các họa phẩm khác là chưa phản ánh chân thực về 12 môn đệ, đặc biệt là hoạt động tâm lý phức tạp của Giuđa. Tác phẩm của Da Vinci đã giải quyết mỹ mãn vấn đề này. Từ đó về sau, không hoạ sĩ nào vẽ lại đề tài này nữa bởi họ cho rằng không thể vượt qua tác phẩm của danh họa Da Vinci.

Để vẽ nên bức tranh này, Vinci đã gặp không ít khó khăn, nhất là phải xử lý nhân vật Giuđa. Để giải quyết khó khăn này, hàng ngày Vinci phải đi lang thang trong thành phố để quan sát cử chỉ, hành động của bọn tội phạm, lưu manh rồi vẽ đi vẽ lại hàng trăm bức họa Judas ở các tư thế khác nhau. Việc đi lang thang trong thành phố như vậy đã nảy sinh lòng nghi ngờ của bao người, trong đó có cả giáo sĩ. Sau đó, nhờ thị trưởng thành phố, Vinci đã giải quyết được hiểu lầm, và bức tranh ngày nay vẫn còn trên tường nhà thờ.

Thời gian: Có một địa điểm mà mọi du khách đến thành phố Milan (Ý) đều muốn được xem, đó là nơi có bích họa Bữa Tiệc Ly của danh họa Leonardo Da Vinci, được vẽ trên tường nhà thờ Santa Maria della Grazie từ thế kỷ  XV (trong 3 năm, từ 1495–1498). Thời gian  đó, danh họa làm việc ở Milan dưới sự bảo trợ của công tước Sforza, và chính Sforza đã đặt vẽ bức tranh này.

Do lượng khách muốn xem tranh rất đông, mà theo quy định  thì mỗi lần chỉ có 25 người được vào xem trong 15 phút nên khách thường phải đặt mua vé trên Internet  trước 2 tháng (giá 8 euro). Muốn xem sớm hơn thì có thể mua vé tại một số công ty du lịch với giá đắt hơn, khoảng 20 euro.

Du khách được nhân viên  dẫn qua mấy lớp cửa bảo vệ để vào nhà thờ, nơi bức họa được Da Vinci vẽ trên bức tường cách đây 600 năm với kích thước 8,8m x 4,6m. Khi sáng tác bức họa, Da Vinci không theo kỹ thuật  lúc bấy giờ là sử dụng thạch cao ướt mà dùng thạch cao khô. Vì vậy, bức tranh bị tàn phai nhanh chóng theo thời gian. Nhiều thế kỷ sau, người ta phải tu sửa rất nhiều lần và việc này cũng gây nhiều tranh cãi về độ chính xác của bức họa.

Khi Pháp chiếm Milan hồi thế kỷ XVIII, quân lính của Napoléon đã phá hoại không thương tiếc bằng cách ném đá lên bích họa này. Trước đó (thế kỷ XVII), một người vô ý thức ở nhà thờ còn nảy ra ý định đục một cánh cửa ra vào ở giữa bức tường, ngay vị trí chân của Chúa. Sau này, cánh cửa bị bít lại, nhưng phần chân Chúa phía dưới bàn (theo các bản vẽ ban đầu có tư thế bắt chéo như khi bị treo trên thánh giá) không được phục hồi lại. Lần bức họa bị phá hoại nặng nề nhất là thời Đệ nhị Thế Chiến, khi nhà thờ bị bỏ bom và hư hỏng nặng.

Cũng trong căn phòng này, đối diện với bức tranh Buổi tiệc ly là bức Thập Tự Giá của Giovanni Donato da Montorfano – một họa sĩ cùng thời với Da Vinci nhưng ít nổi danh hơn. Cho dù đã từng xem bức tranh nổi tiếng của Da Vinci trong sách, nhưng khi đứng trước tuyệt tác này, nhiều người mới khả dĩ cảm nhận được kích thước to lớn của nó và đặc biệt là nghệ thuật xử lý ánh sáng của danh họa, vì ánh sáng trong bức tranh được vẽ là hướng từ cửa sổ bên trái phía sau.

Phần bên phải của bức tranh được danh họa vẽ sáng hơn, màu sắc trang phục các nhân vật cũng được xử lý rất khéo: Cùng màu xanh, nhưng chiếc áo của những người ngồi bên phải khác với màu xanh chiếc áo của Chúa ở giữa và những người ngồi bên trái. Những điều này khó có thể cảm nhận được trên các bản sao, dù là hình hoặc phim ảnh.

TRẦM THIÊN THU (tổng hợp)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Văn hóa  | Leave a Comment
Tấm lòng Feb 20

Triết gia Pascal nói: “Con người là cây sậy có lý trí”. Một cách diễn tả dung dị dễ hiểu. Điều đó mặc nhiên rằng con người là sinh vật bất túc, bất trácbất toàn, với một số phận mong manh không khác đóa phù dung. Và vì thế, con người cứ miệt mài ngày đêm đi tìm Chân-Thiện-Mỹ theo lệnh truyền của Thiên Chúa: “Hãy hoàn thiện như Cha trên trời” (Mt 5:48). Nghĩa là phải chiến đấu và vươn lên không ngừng, với khát khao tìm về cái gọi là “nhân chi sơ tính bổn thiện” sau những ngày (có thể) sa chân lầm lạc hoặc lỡ để bàn tay nhúng chàm.

Con người yếu đuối nên dễ “nhiễm” cái xấu hơn cái tốt, nhưng hẳn là khôn hơn khi chưa vấp ngã. Phêrô, một ngư ông chất phác, được Chúa Giêsu chọn làm Tông đồ, và dù đã “thẳng thừng” chối Thầy mình, ông vẫn được Ngài cất nhắc lên làm Giáo hoàng tiên khởi, làm “hoa tiêu” đưa Con thuyền Giáo hội vượt qua ngàn trùng sóng gió, vì chính ông đã có kinh nghiệm bản thân. Vấn đề không phải là tốt hay xấu, giỏi hay dốt, mà là biết thành tâm sám hối, biết sửa sai và phục thiện, để sống tốt hơn và lợi ích cho tha nhân.

Thật vậy, đời người là một chu-kỳ-ăn-năn không ngừng. Hết lỗi lầm này đến sai lầm khác. Rồi ăn năn. Rồi tái phạm. Và rồi lại hối hận… Vậy đó, hứa nhiều mà chẳng giữ được bao nhiêu. Càng nhiều tuổi càng “nói dối” nhiều: Ai càng sống lâu càng xưng tội nhiều lần mà vẫn chưa chừa được! Chúng ta chỉ là những kẻ nói dối Chúa! Ai cũng quyết lên án nhưng rồi không ai dám ném đá người-phụ-nữ-bị-bắt-quả-tang-phạm-tội-ngoại-tình, thế nên họ đều lần lượt bỏ đi, người lớn tuổi đi trước, kẻ nhỏ tuổi đi sau, vì không ai thấy mình sạch tội. Vâng, đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán!

Nói vậy không có nghĩa là không cần hoàn hảo vì không thể hoàn hảo. Vẫn phải cố gắng tìm sự hoàn hảo: Hoàn hảo ngay trong cái chưa hoàn hảo. Nếu tưởng mình hoàn hảo tức là chưa hoàn hảo. Thật vậy, “ai tưởng mình là gì mà kỳ thực không là gì hết, đó là lừa gạt chính mình” (Gl 6:2-3). Những người theo chủ-nghĩa-hoàn-hảo, gọi là cầu toàn, luôn làm ra vẻ hoàn hảo để mong được tiếng khen, dễ nóng giận với chính mình và luôn chê trách hoặc ghen ghét người khác. Thực ra đó chỉ là cách che giấu cái bất toàn của mình.

Quả thật, con người quá yếu đuối và luôn đầy tham vọng. Nhưng không vì thế mà ỷ lại hoặc cố chấp, biên hộ cho những gì mình làm. Ngược lại, phải tự biết chấp nhận mức độ hữu hạn của mình để luôn biết làm việc tận tụy bằng tất cả tâm lực mà không đòi hỏi gì thái quá nơi người khác. Đức Giêsu đã nói: “Ai trung thành trong việc nhỏ sẽ trung thành trong việc lớn” (Lc 19:12-27). Hãy tự giành cho mình những việc khó và dành cho người khác những việc dễ, nhưng không hề miễn cưỡng hoặc tỏ vẻ khó chịu.

Mùa Chay là thời gian cần thiết để suy gẫm, tĩnh tâm, vì đời người như một cỗ máy, thi thoảng vẫn cần được tu sửa – dù tiểu tu, trung tu hoặc đại tu. Mùa Chay cũng là dịp “nhìn lại” số km mình đã đi qua để biết phải cố gắng thêm ít hay nhiều, như máy móc phải châm thêm hoặc thay dầu nhớt, chứ không thể tự mãn. Ăn chay phải gắn liền với cầu nguyện, vì “bao lâu ta chưa thôi cầu nguyện là dấu chắc chắn Chúa đang thương” (Thánh Augustinô). Cầu nguyện là mãnh lực khả dĩ chiến thắng tất cả!

Ăn chay song song với tịnh tâm. Không nhất thiết phải làm điều gì vĩ đại mà chỉ cần “chấn chỉnh” hoặc “cởi bỏ” một thói xấu hoặc một động thái nào đó… Thiết tưởng đó mới là cách “trở về” hữu ích và đẹp lòng Chúa. Có thể là hy sinh không đi chơi, bớt hoặc bỏ hút thuốc, giảm uống cà-phê, bớt uống rượu, thôi cờ bạc, ít tán gẫu, không xét đoán, chăm học hơn, quan tâm nhau hơn, sống hòa đồng hơn, nghiêm túc hơn,… Đó chính là những Vị Ngọt làm cho ly-cà-phê-không-đường đời mình thêm đậm đà hương vị, để không chỉ cho riêng mình “thưởng thức” mà còn cho cả những người xung quanh cùng “nếm thử”. Và còn mãi dư vị làm sảng khoái…

Trở về là hành-trình-vui nếu biết trở về với cả tấm lòng sau những năm tháng hoang đàng. Thiên Chúa luôn nhân hậu và đại lượng vẫn từng giây mong chờ tội nhân trở về nương náu Tình Yêu Thiên Chúa. Dù tội lỗi đến đâu, dù thất vọng nhưng đừng tuyệt vọng, Thiên Chúa vẫn nhân hậu vô cùng, chỉ cần chúng ta biết thành tâm sám hối, vì chính Chúa Giêsu đã nói với nữ tu Josefa Menendez (1890–1923, Dòng Thánh Tâm): “Sự khốn nạn của con lôi cuốn Cha”. Thật là may mắn và hạnh phúc cho mỗi người chúng ta có một Vị Thiên Chúa từ bi ngoài sức tưởng tượng của loài người!

Tình Yêu Chúa là thế, yêu đến cùng, yêu đến chết, yêu đến giọt máu và giọt nước cuối cùng, vì vậy mức độ yêu Chúa của chúng ta phải theo cách thức của Thánh Bernard: “Mức độ yêu Chúa là yêu vô hạn”. Con người với nhau rất cần một tấm lòng thì với Thiên Chúa, Ngài cũng chỉ cần chúng ta dành trọn cho Ngài một Tấm Lòng mà thôi!

Lạy Chúa, chúng con thật yếu đuối, “điều con muốn thì con không làm, điều con không muốn thì con lại làm” (x. Rm 7:19). Thật trớ trêu thay! Nhưng Ngài vẫn không chấp, vẫn sẵn sàng tha thứ tất cả, tha thứ vô điều kiện chỉ vì Tình Yêu Ngài dành cho con luôn trọn vẹn, trước sau như một. Có nhiều lúc con cô đơn và thất vọng ê chề, xin Ngài thương độ trì, vì con xác tín “Ngài là Đấng đã gọi con, Ngài đang ở với con, Ngài không để con cô đơn một mình” (Ga 8:29) và “xin thêm đức tin cho con” (Lc 17:5). Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Bí ẩn vụ trộm họa phẩm Mona Lisa Feb 20

Một thế kỷ qua, vụ trộm họa phẩm Mona Lisa vẫn là vụ trộm nghệ thuật nổi tiếng nhất lịch sử.

Mona Lisa là họa phẩm chân dung do danh họa Leonardo da Vinci vẽ trong những năm 1503–1507, biến mất khỏi Viện bảo tàng (VBT) Louvre vào ngày 21-8-1911. Kẻ lấy trộm là Vincenzo Peruggia (1881-1925), một người nhập cư Ý sống ở Paris với kiệt tác Mona Lisa hơn 2 năm.

Peruggia không bị phát hiện cho đến khi ông ta trả lại kiệt tác Mona Lisa về Florence qua một người buôn bán tranh người Ý, người này nói rằng đã lấy trộm bức họa để trả lại cho người Ý. Tuy nhiên, điều đó vẫn là một bí ẩn như nụ cười của nàng Mona Lisa vậy.

Khó có thể tin rằng Peruggia đã một mình lấy cắp, nên gợi lên vài giả thuyết về âm mưu. Joe Medeiros nói: “Một giả thuyết nổi bật là Peruggia chỉ là một người bình thường trong một âm mưu lớn bán các bức họa Mona Lisa giả cho các triệu phú người Mỹ. Vụ trộm bức họa Mona Lisa thật chỉ là cách thuyết phục những người mua chấp nhận là thật”.

Medeiros có 1.500 bản sao tài liệu của văn khố Pháp và Ý, kể cả của cảnh sát và tòa án, cuối cùng đã phát hiện rằng tiền bạc – chứ không thực sự là yêu nước – đã đặt phái sau vụ trộm.

Một nỗ lực tìm manh mối về nguyên nhân khiến Peruggia ăn cắp bức họa, Medeiros đã gặp con gái của Peruggia là Celestina ở Ý. Nhưng Celestina, người đã qua đời hồi tháng 3-2011 lúc 87 tuổi, biết rất ít về người cha. Medeiros nói: “Ông Peruggia ấy đã chết khi Celestina mới chập chững đi”. Và người ta đã trở lại VBT Louvre để tìm hiểu…

Lúc bức họa Mona Lisa bị mất trộm, Peruggia 29 tuổi, vẽ tại nhà, đã từng làm việc ở điện Louvre một thời gian ngắn với công việc là lộng kiếng cho 1.600 kiệt tác để tránh hư hỏng. Peruggia quen với các loại hình nghệ thuật Ý và không hiểu sao nó lại ở Viện bảo táng Pháp. Ông đọc thấy rằng Napoleon đã cướp phá kho tàng nghệ thuật của Ý khi chiếm đất nước này và đã đem về Paris. Do đó, ông tin rằng các loại nghệ thuật Ý ở VBT Louvre là phi pháp và quyết định đem một bức về nước của nó.

Không biết bức họa Mona Lisa có được chính Leonardo da Vinci bán cho vua Francois I của Pháp hay không, ông ta trả lại bức họa này vì nó nhỏ gọn và dễ vận chuyển. Medeiros nói: “Ông ta ăn cắp kiệt tác này bằng cách vào Viện bảo tàng vào thứ Hai, khi VBT Louvre đóng cửa để làm vệ sinh. Ông ta mặc áo khoác trắng để dễ trà trộn với các công nhân khác”.

Đó là công việ dễ dàng nhất: Peruggia lấy bức họa đang treo trên tường, tháo khung ra, giấu nó trong áo và đưa ra khỏi viện bảo tàng. Mãi đến hôm sau vụ trộm mới bị phát hiện vì nhân viên bảo vệ VBT Louvre cho rằng kiệt tác đó do nhiếp ảnh gia của viện bảo tàng cất giữ. Khi thấy khung trống không, các nhân viên của VBT Louvre mới bắt đầu khả nghi.

Khoảng 60 thám tử lục soát khắp viện bảo tàng. Mặc dù Peruggia để lại các dấu tay trên kính bao bọc bức họa nhưng vẫn không thể theo dõi. Vụ trộm này là một vụ kỳ lạ, hàng ngàn người đã kéo đến xem khoảng trống giữa bức họa Allegory of Alfonso d’Avalos của Titian và bức họa Mystical Marriage của Correggio ở Salon Carré.

Ngay cả Pablo Picasso và người bạn tên Guillaume Apollinaire, một nhà thơ và nhà phê bình nghệ thuật, đã bị chất vấn vì bị tình nghi trong vụ trộm (vì hai người này đã vài lần mua những bức tượng nhỏ của Iberia bị mất trộm trong bộ sưu tập cổ ở VBT Louvre). Medeiros nói: “Bức họa Mona Lisa chỉ ở cách xa VBT Louvre 2 dặm, trong một phòng nhỏ của Vincenzo Peruggia. Ông ta đã sống ở đó với bức họa gần 2 năm rưỡi”.

Tháng 12-1913, Peruggia đem bức họa đó tới một người buôn bán tranh ở Florence, nói đó là của một người Ý ái quốc. Ông ta muốn được chính phủ Ý thưởng công. Nhưng thay vì được thưởng, ông ta lại bị tù.

Tuy nhiên, tòa án cho ông ta hưởng án khoan hồng là chỉ bị tù 7 tháng. Các lá thư của Peruggia gởi cho cha mẹ lên tới 61 trang, điều này giúp Medeiros có manh mối cuối cùng về động cơ thúc đẩy người đàn ông này ăn cắp bức họa Mona Lisa. Medeiros nói: “Đó là điều con gái ông là Celestina muốn nghe thấy”.

Theo các nhà làm phim, Peruggia đã ăn trộm một mình và vì lý do riêng của ông ta, hoàn toàn không vì lý do yêu nước. Ông ta muốn giữ làm tài sản riêng. Ông ta không nói gì về việc muốn giúp đất nước, nhưng ông ta viết rằng “ông ta sẽ làm điều gì đó để cuộc sống gia đình ông ta tốt hơn”.

Các tài liệu cho thấy rằng Peruggia chán công việc vẽ của mình vì nó khiến ông bị bệnh (ông ta bị nhiễm độc chì). Ông không muốn tới Paris để tìm việc vì là dân nhập cư, ông bị đồng nghiệp đối xử tệ. Ông ta cô đơn và không muốn sống xa gia đình.

Medeiros nói: “Đối với Peruggia, việc ăn cắp bức họa Mona Lisa và trả lại cho Ý là tấm vé thoát khổ để có cuộc sống khá giả hơn”. Cuộc triển lãm The Missing Piece đã được tổ chức tại Philadelphia vào ngày 21 và 22-8-2011.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Discovery News)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Xã hội  | Leave a Comment
Phụ nữ đôi khi rất nguy hiểm ! Feb 20

Tôi không nghĩ nhiều người không đồng ý rằng việc định giới tính thái quá (over-sexualizaiton) của phụ nữ là vấn đề quan trọng. Ngay cả tạp chí Good Housekeeping cũng có một câu chuyện chủ yếu về chủ đề này. Bài tường trình mới đầu tập trung vào sự tranh luận từ các buổi biểu diễn như “Toddlers in Tiaras” của đài TLC cùng với môi trường trong văn hóa của chúng ta có cách thuyết phục phụ nữ ở mọi lứa tuổi to xem xét và hành động như “bả giới tính” (sexual bait). Nhưng tôi không biết co bao nhiêu người trong chúng ta sẵn sàng chấp nhận rằng chúng ta là phụ nữ, khi xảy ra tình huống buồn này sẽ gây tổn thương nhiều hơn là giúp đỡ chúng ta.

Mỉa mai thay, điều này trở nên hiển nhiên đối với tôi khi tôi đến một tiệm làm móng tay. Không có gì sai với với việc tự chăm sóc và làm đẹp móng chân móng tay. Nhưng có gì đó rất sai khi chúng ta đưa nó lên đỉnh cao và không chỉ chấp nhận mà còn ôm các phụ nữ ăn mặc và hành động theo những cách khiến một phụ nữ ưa vật chất không nổi tiếng trở nên nổi tiếng như Madonna hoặc nhìn giống như Laura Ingalls trong phim “Ngôi nhà nhỏ trên Thảo nguyên” (Little House on the Prairie).

Thế nên ở đó tôi cố gắng nghĩ về công việc của mình và cố gắng không chú ý những gì gây phiền toái. Một trong số khách mời sáng hôm đó trên chương trình The View là ngôi sao Lady Gaga. Một phụ nữ ngoài 60 ngồi ở ghế cạnh tôi cũng có vẻ “khó chịu”. Người thợ làm móng có cô con gái khoảng 2-3 tuổi. Chị ta nói: “Nó khí phách lắm”. Từ “khí phách” không là chữ tôi chọn khi diễn tả về phái nữ. Điều gì khiến phụ nữ này nghĩ về ai đó như Lady Gaga khi họ thấy một siêu sao? Họ có bao giờ nghe lời ca của các ca khúc mà ca sĩ này hát? Tôi không đủ trình độ để giải thích “nguyên nhân”, nhưng tôi nghĩ rằng “thần tượng và bắt chước ai đó là mù quáng, là ngu xuẩn, là tự hạ giá mình”.

Có thể thể các từ ngữ tôi dùng không hiệu quả nhất nhưng tôi hy vọng rằng thiếu phản hồi nghĩa là lần tới họ nghĩ 2 lần, nếu không vì họ thì ít ra cũng vì các con gái và các cháu ngoại của họ.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ IntegratedCatholicLife.org)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Xã hội  | Leave a Comment
Bác học Einstein có tin Thiên Chúa ? Feb 20

Bác học Albert Einstein (1879-1955), một khoa học gia nổi tiếng nhất thế kỷ XX, sinh trong một gia đình Do Thái giáo. Hồi nhỏ, ông có một thời rất sùng đạo, nhưng lúc ông đọc 12 cuốn sách khoa học và ông tin rằng nhiều truyện trong Kinh thánh không có thật. Thế là ông xa rời việc giữ đạo.

số các khoa học gia vô thần. Trong cuốn The God Delusion (Ảo tưởng Thiên Chúa), Dawkins viết: “Đôi khi Einstein gợi lên danh xưng Thiên Chúa (và ông không là khoa học gia vô thần duy nhất làm như vậy), tạo nên sự hiểu lầm” (trang 36 của cuốn Deus, un delírio, NXB Brazil). Và ông tuyên bố “người biện hộ tôn giáo” (religious apologists) là người “cố gắng tuyên bố Einstein là một trong những người của họ” (trang 39).

Riêng tôi cảm thấy “liên can” trong lời tuyên bố của Dawkins. Thật vậy, những năm trước, tôi đã trích dẫn câu nói nổi tiếng của bác học Einstein: “Khoa học không có tôn giáo là khập khiễng, tôn giáo không có khoa học là mù quáng” (Science without religion is lame, religion without science is blind). Và tôi nói thêm: “Trong sự chín chắn của ông, Einstein đã bênh vực một ‘sự sùng mộ vũ trụ’ (cosmic religiousness) dựa vào sự hiện hữu của sức mạnh siêu lý trí, được tiết lộ trong vũ trụ khó hiểu” (Experiência de Deus: presença e saudade. 2ª ed. revista. São Paulo: Loyola, 2002, trang 14).

Để làm rõ mọi nghi ngờ, độc giả có thể xem tiểu sử mới nhất và đầy đủ nhất của bác học Albert Einstein: Cuốn Einstein: His life and universe (Einstein: Cuộc đời và Vũ trụ, xuất bản năm 2007) của tác giả Walter Isaacson, bản chuyển ngữ sang tiếng Bồ Đào Nha của dịch giả Companhia das Letras (Einstein: sua vida, seu universo. São Paulo, 2007). Isaacson chỉ ra một chương đầy đủ đối với vấn đề “Thiên Chúa của Einstein”. Trong chương này, tác giả mô phỏng các lời tuyên bố của Einstein – cha đẻ của thuyết tương đối – để cho phép coi ông là một người tôn giáo (theo nghĩa rộng) và các lời tuyên bố khác đã khiến ông xa rời niềm tin Kitô giáo Do Thái giáo.

Vả lại, tác giả trích dẫn câu nói nghịch lý của Einstein: “Tôi là người không có niềm tin tôn giáo mà rất tôn giáo” (I’m a deeply religious non-believer).

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ UCANews.com)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Xã hội  | Leave a Comment
Phúc âm không là chương trình chính trị Feb 20

Tác giả MARK SHEA

Người ta tranh luận rằng nhiều lời cam kết chính trị dựa theo giáo điều của các Kitô hữu bảo thủ can thiệp vào chủ nghĩa tư bản (capitalism), chủ nghĩa quân phiệt (militarism), và đến nỗi chỉ được ban bí tích Thánh tẩy bằng một đoạn Kinh thánh được chọn lựa kỹ lưỡng. Thật vậy, nhiều lời cam kết này đạt được nhiều cảm hứng từ những người vô thần như Ayn Rand hoặc những người theo chủ nghĩa xã hội Darwin tạp nhạp (sundry social Darwinists) hơn là từ Đức Kitô. Ai nói “Có” khi nghĩ về một người không được bảo đảm mà đang hấp hối thì không chỉ như một người khóc ở mộ ông Lazarô. Các Kitô hữu càng sớm không được “lập trình” từ khái niệm cho rằng chủ nghĩa tư bản bị người tiêu dùng điều khiển mang tính chủ nghĩa cá nhân là “Truyền thống được thánh hóa” (Sacred Tradition) thì càng sớm có thể thông thoáng đầu óc và nghĩ bằng đầu óc của Giáo hội. Điều này gồm những nỗ lực không ngừng, chẳng hạn như thánh Phalô là nhà phê bình chính trị về chương trình của chính phủ đối với việc “cho kẻ đói được ăn”.

Khi thánh Phaolô nói: “Ai không chịu làm thì cũng đừng ăn!” (2 Tx 3:10), ngài không nói về việc kết án các chương trình phúc lợi của nhà nước. Thật vậy, ngài không hề nói về đất nước nào. Ngài nói về cuộc sống trong cộng đoàn các tín hữu và yêu cầu các chi thể của Nhiệm thể Đức Kitô, không phải tổ chức chính trị, phải nỗ lực. Cách chúng ta đối xử với người nghèo, dù người trong hoặc ngoài Giáo hội, được Chúa Giêsu bàn luận chứ không thuộc các hiệp ước chính trị, nghĩa là “hãy cho mọi người xin bạn; và Ngài sẽ lấy đi của cải của bạn mà không xin lại được”. Điều này có nghĩa là Chúa Giêsu, cũng như thánh Phaolô, là người theo chủ nghĩa xã hội? Không, điều này nghĩa là Chúa Giêsu cũng không đề xuất một chương trình chính trị nào khác hơn thánh Phaolô. Chúa Giêsu không có lý thuyết nào đề xuất về chính quyền hoặc nền kinh tế. Ngài nhận biết quyền về tài sản tư, minh nhiên trong điều răn “Chớ lấy của người”. Ngài đưa ra sự nghi ngờ về tài sản, nhưng Ngài không kết án những vật sở hữu và Ngài khôn khéo tránh né các cuộc tranh luận về tiền bạc. Ngài cũng không vốn dĩ là người ủng hộ chủ nghĩa xã hội hoặc chủ nghĩa tư bản.

Giáo hội ban đầu không đề xuất chủ nghĩa xã hội như thánh Phaolô tuyên bố khi ngài nói rằng sách Công vụ Tông đồ nói với chúng ta: “Các tín hữu họp nhau và có mọi thứ là của chung. Bán mọi tài sản, họ cho bất cứ ai cần. …Không ai nhận thứ gì là của mình, nhưng họ chia sẻ mọi thứ họ có. …Trong số họ kông có người nghèo. Thi thoảng những người có đất đai hoặc nhà cửa thì họ bán hết, rồi đem tiền đến đặt dưới chân các tông đồ, tiền này được phân phát cho những người cần”. Đây là hồ sơ về cách Giáo hội phôi thai đã điều hành nội bộ, chứ không là hồ sơ của Giáo hội lữ hành tới Rôma và yêu cầu nhà nước ủng hộ chủ nghĩa xã hội. Yêu cầu to lớn của thánh Phaolô là “dân chúng là chủ nghĩa xã hội công khai (outright socialism) của dạng mà cả ngàn năm sau được Marx mô tả” – có thể ý tưởng đã được lấy từ Phúc âm. Hiện nay người dân phải là một trong những cách hiểu dốt nát nhất trong cả lịch sử của Tân ước và Marx. Bằng cách nào đó, nhà nước áp đặt ý muốn của giới vô sản bằng sức mạnh phát triển từ khẩu súng, và cho việc thờ phượng Thiên Chúa là thuốc phiện (opiate) của dân chúng trong sách Công vụ Tông đồ.

Cũng vậy, Công đồng Giêrusalem – chủ yếu là “kiểu dân chủ quân chủ” (monarchical democratic model) của sự quyết định đồng tâm nhất trí – không có nghĩa là Giáo hội yêu cầu hoàng đế La Mã phải được thay thế bằng một kiểu tương tự, hoặc tổ chức Quốc hội Lục địa II (Second Continental Congress) và khuyến khích nền dân chủ là một giá trị Kitô giáo. Gánh nặng của Giáo hội không là vi quản lý (quản lý chi tiết – micromanage) cả kinh tế lẫn chính trị. Công đồng này cũng không bắt chúng ta theo một lý thuyết chính trị nào đó.

Dĩ nhiên, thánh Phaolô viết bằng một chương trình nghị sự trong sáng. Ngài muốn tố cáo các Kitô hữu là những kẻ đạo đức giả hình (hypocrites) – một nhiệm vụ đủ dễ dàng trong một cộng đồng không gì khác hơn là các tội nhân. Nhưng việc làm chúng ta khỏi nói dối mà chủ nghĩa tư bản cá nhân tàn nhẫn do người tiêu dùng điều khiển là nét đặc trưng của truyền thống được thánh hóa không thực sự được hỗ trợ bằng cách cố gắng tái lập trình chúng ta bằng sự nói dối mà Chúa Giêsu hoặc Phúc âm là một người theo chủ nghĩa Mác-xít, cuối cùng là ý thức hệ chính trị (political ideology). Không. Nó là chính nó và hệ thống con người bị bần cùng hóa của trật tự mà chúng ta gọi là “ý thức hệ” lại chỉ là những mảnh rách nát từ nó. Từ cổ được dùng gọi những mảnh vụn đó là “dị giáo” (heresy) – một từ không phổ biến ngày nay, tiếc là vì nó vẫn được mô tả là ý thức hệ một cách hoàn hảo.

Từ “dị giáo” có nguồn gốc là tiếng Hy Lạp nói đến việc lấy ra một sợi dây trong cả khối dệt, để rồi một sợi tách ra và toàn bộ vật kia bị phá hư. Đó là những gì những người theo dị giáo và những người chủ trương (một thuyết nào đó) luôn làm: Trích một câu Phúc âm và sử dụng câu đó để tấn công toàn bộ. Nếu ai đó nói với bạn rằng Chúa Giêsu là người theo chủ nghĩa tư bản hoặc theo chủ nghĩa xã hội, người theo chủ nghĩa tự do hoặc chủ nghĩa bảo thủ, người theo chủ nghĩa quốc gia hoặc chủ nghĩa toàn cầu, thành viên của đảng này hay đảng nọ, đó là bạn đang nói chuyện với một người theo dị giáo hoặc tà thuyết.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Thư gởi Mẹ Feb 20

Mẹ kính yêu,

Làm sao một đứa con trai nói lời cảm ơn khi Mẹ đã mất hơn 20 năm rồi? Con thắc mắc vì con mới đang độ tuổi thanh xuân, giá mà Mẹ biết con rất muốn nói những lời cảm ơn Mẹ về những gì Mẹ đã dành cho con dù lời cảm ơn nghe cũ rích và sáo mòn.

Lớn lên con không nghĩ gì về sự thật là Mẹ chỉ có một tay và một chân, vì Mẹ làm mọi thứ có vẻ quá dễ dàng. Mất chân mất tay có vẻ bình thường đối với con. Hồi nhỏ, con nghĩ không gì khó khi Mẹ thắt dây giày. Con không có chút khái niệm mơ hồ nào về những cố gắng của Mẹ để Mẹ có kỹ năng đó.

Con cũng không nghĩ nhiều về Mẹ khi Mẹ 3 tuổi bị xe điện cán vào chân. Hoặc khoảnh khắc khủng khiếp đó, lúc tài xế cho xe lùi lại thì lại cán đứt tay Mẹ. Con không hiểu nỗi đau mà ông bà ngoại chịu đựng đến mức nào khi thấy con gái mình nằm trơ trọi tên giường bệnh viện.

Sau đó, rồi con mới hiểu những gì Mẹ đã vượt qua. Con bật khóc khi con nghe bà ngoại kể chuyện ông chú tập cho Mẹ bơi sau tai nạn 1 năm. Mẹ nôn nóng chờ đến lúc vào hồ bơi công cộng, sự hăng hái của Mẹ dâng cao thì nhiều người lớn đang tắm đều đổ dồn mắt nhìn Mẹ, còn trẻ con thì chỉ tay vào Mẹ. Mẹ xấu hổ khi ông chú bế Mẹ lên và nói với mọi người: “Hãy nhìn kỹ đi!”. Mẹ còn nhỏ nên không hiểu rằng ông chú đang cố gắng bảo vệ Mẹ. Một thời gian lâu sau Mẹ không dám đi đâu, dù chỉ ra mở cửa, nếu Mẹ không mang tay chân giả.

Con cũng không thể hiểu hết niềm vui mà người ta có khi được nhận phần thưởng dành cho người cụt chân tay. Hẳn là họ phải chiến đấu nhiều để vượt qua chính bản thân.

Dĩ nhiên chỉ là một đứa trẻ nên con không nói đến cô bé khiêu vũ chuyên nghiệp với các chị em khác trên sân khấu ở nhà hát Curran. Con không nhìn Mẹ như một nhạc sĩ thành công ở tuổi 16 và là thành viên ban nhạc giao hưởng San Francisco. Con cũng không nhìn Mẹ như một thiếu niên biết trượt tuyết trên những con đường đèo dốc ở San Francisco.

Cảm ơn Mẹ đã dạy con biết sống noi gương Mẹ. Mẹ dạy con rằng không có gì là không thể nếu con muốn và cố gắng. Lúc này con đang đọc những tình cảm của Mẹ khi con xem bài báo và tấm hình Mẹ chụp tại cuộc thi San Francisco Examiner. Báo đăng hình Mẹ chụp khi Mẹ 16 tuổi, tay phải Mẹ cầm kèn trumpet vừa tươi cười trước ống kính, bài báo trích dẫn lời Mẹ nói lúc đó. Con ghi nhớ lời Mẹ nói và thực hành trong cuộc sống, những lời đó con cũng truyền lại cho các con của con.

Hồi nhỏ, bản tính con bướng bỉnh. Có thể Mẹ không biết điều đó, nhưng bà ngoại luôn nói con phải chăm sóc Mẹ với lòng kính trọng. Ngoại kể rằng hồi nhỏ Mẹ mang chân giả đi trượt tuyết bị chảy máu chân nhưng Mẹ không kêu than, không sợ gì, không kêu đau khi ngoại chùi máu khô trên vết xước ở chân Mẹ. Rồi Mẹ lại tiếp tục trượt tuyết. Không gì có thể cản bước Mẹ!

Sinh nhật thứ 20 của Mẹ, lúc ngoại tặng Mẹ chiếc kèn trumpet đầu tiên, Mẹ không biết Mẹ sẽ truyền vào con trai Mẹ niềm đam mê âm nhạc và dương cầm. Mẹ luôn nói với con rằng nếu người lái xe không lùi xe lại thì hẳn là Mẹ không là người biết chơi dương cầm. Nhưng mãi tới lúc con là một thiếu niên thì Mẹ mới nói với con điều đó. Con đoán là Mẹ không muốn làm con ảnh hưởng. Nhưng khi con quyết định học đàn thì Mẹ không để con nản chí. Mẹ ngồi trên chiếc ghế gần con để sửa từng nhịp phách và câu nhạc cho con, nhiều lần Mẹ làm cho việc học đàn trở thành niềm vui, nhưng không được bỏ cuộc.

Đời Mẹ không bao giờ đầu hàng bất kỳ thứ gì và cũng không để con trai Mẹ bỏ cuộc. Mẹ nói với con rằng biết chơi dương cầm luôn là điều giúp con thư giãn khi gặp khó khăn trong đời. Con tin rằng tài năng có lợi cho cuộc sống. Chính dương cầm đã góp phần giúp con cưới được vợ con bây giờ. Vì vậy, Mẹ ơi, con xin cảm ơn Mẹ một lần nữa. Có thể Mẹ không nhận ra điều đó, nhưng khi những gì con cố gắng mà rất khó khăn thì con luôn nghĩ đến những khó khăn mà Mẹ đã biến thành chiến thắng trong đời Mẹ. Con thật ngu xuẩn khi than phiền về những khó khăn!

Khi con gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm (Army Special Forces), việc huấn luyện nghiêm nhặt và khắt khe, nhiều lần con đã muốn bỏ cuộc. Nhưng lúc đó con lại nhớ đến tấm hình Mẹ chụp lúc Mẹ 16 tuổi, tay cầm kèn trumpet và trả lời phỏng vấn báo chí: “Không có gì là không thể nếu người ta muốn và cố gắng hết mình”.

Mẹ ơi, con vững niềm hy vọng, lúc Chúa cho Mẹ con còn sống bên nhau, Mẹ nhận biết Mẹ có ý nghĩa đối với con thế nào, con vô cùng biết ơn Mẹ về những gì Mẹ dạy bảo con, và con yêu Mẹ biết bao vì Mẹ là Mẹ của con.

Con cảm ơn Mẹ chân thành từ đáy lòng con.

Con trai của Mẹ,

Thomas

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Gia đình  | Leave a Comment
Sự hy sinh của Mẹ Feb 20

Đây là câu chuyện cảm động có thật đã xảy ra trong một trận động đất ở Nhật Bản.

Sau khi trận động đất qua đi, khi các nhân viên cứu hộ đến ngôi nhà đổ nát của một phụ nữ trẻ, họ nhìn thấy thân thể cô ấy qua các vết nứt. Nhưng dáng người chị ấy có gì đó rất lạ, tựa như đang quỳ gối cầu nguyện, cơ thể nghiêng về phía trước, và đôi tay chị đỡ lấy một vật gì đó. Ngôi nhà sụp xuống đổ ập lên lưng và đầu phụ nữ đó.

Người đội trưởng đội cứu hộ rất khó khăn luồn tay qua khe nứt trên tường để chạm tới phụ nữ đó. Anh hy vọng rằng phụ nữ này có thể vẫn còn sống. Nhưng cơ thể lạnh cứng của chị cho anh biết rằng chị chắc chắn đã tắt thở.

Đội cứu hộ rời khỏi ngôi nhà và tìm kiếm ở những toà nhà sụp đổ khác. Nhưng người đội trưởng như bị một sức hút trở lại căn nhà sụp đổ của người phụ nữ đã chết kia. Người đội trưởng quỳ xuống và lần tìm qua những khe nứt hẹp bên dưới thi thể người phụ nữ. Đột nhiên, anh vui mừng hét lên: “Một đứa bé! Có một đứa bé!”. Cả đội đều cẩn thận bỏ từng cái cọc trong đống đổ nát xung quanh thi thể người phụ nữ. Có một bé trai 3 tháng tuổi được bọc trong một tấm chăn hoa ngay bên dưới xác người mẹ. Rõ ràng người phụ nữ kia đã thực hiện sự hi sinh cuối cùng để cứu con trai mình. Khi ngôi nhà sụp xuống, chị đã dùng cơ thể của mình để làm tấm chắn bảo vệ con trai mình. Cậu bé vẫn ngủ một cách yên bình khi đội trưởng cứu hộ nhấc nó lên.

Bác sĩ mau chóng kiểm tra sức khoẻ cậu bé. Sau khi mở tấm chăn, ông nhìn thấy một chiếc điện thoại di động bên trong. Có một tin nhắn hiện ra trên màn hình…

Chiếc điện thoại chuyền tay hết người này tới người khác. Ai cũng khóc khi đọc tin nhắn này: “Nếu con sống sót, con phải nhớ rằng Mẹ yêu con”. Tình thương người mẹ dành cho đứa con là như thế đó!

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Mother’s Sacrifice)

t��{h��4 pX�ồng quà tấm bánh cho Mẹ già, thế mà Mẹ vẫn dành cho tôi những món quà vô giá, tuy mộc mạc chân chất nhưng chứa chan tình yêu thương. Nhìn vóc dáng tiều tụy, mái tóc bạc trắng, và những vết thời gian hằn sâu trên khuôn mặt Mẹ, tôi xót lòng mà không biết làm sao được!

Tình Mẹ bao la quá, tuyệt vời quá! Thế nhưng tôi vẫn chẳng làm được gì cho Mẹ có chút niềm vui. Tôi không muốn khoanh tay mà vẫn đành thúc thủ, dù tôi thực sự không muốn tự biện hộ cho mình. Thân cò Mẹ suốt đời lặn lội trên Bến Lặng Yêu Thương với những giọt nước mắt khổ đau như lại nồng ấm tình thương. Không bao giờ tôi có thể hiểu thấu và không bao giờ tôi có thể đền đáp được tình Mẹ – dù chỉ là một phần nhỏ – vì Mẹ đã vĩnh viễn xa tôi để về bên kia thế giới. Tình Mẹ đã chắp cánh cho tôi và soi bước tôi đi giữa cuộc đời này.

Xin cảm ơn Mẹ, xin thắp nén nhang lòng tưởng nhớ Mẹ, xin được hòa chung với nước mắt Mẹ với niềm thành kính của một đứa con bất hiếu!

TRẦM THIÊN THU

Saigon, 2-11-2011

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Gia đình  | Leave a Comment
Trái tim của Mẹ Feb 20

Khi bạn nhìn vào cuộc đời mình, bạn sẽ thấy hạnh phúc lớn nhất là hạnh phúc gia đình (Dr. Joyce Brothers).

Có ít nhất nửa mét tuyết vào buổi sáng mùa xuân. Anh chị em tôi cùng ngồi trên băng ghế, xem phim hoạt hình. Mẹ thúc giục chúng tôi đứng dậy và lấy áo ấm mặc vào. Chúng tôi cằn nhằn một chút, không biết có như máy kéo của Ba bị hư không và chúng tôi không thể cày xới tiếp, nghĩa là chúng tôi phải lấy xẻng cào tuyết cả hai con đường. Mẹ quả quyết với chúng tôi là máy kéo của Ba không bị hư. Những gì chúng tôi phải làm là đi theo Mẹ.

Ra tới cánh đồng, Mẹ nói chúng tôi đi hàng một phía sau Mẹ. Tôi không biết có gì khác thường hay không. Nhưng chúng tôi nhận ra khi nhìn lại những dấu vết chúng tôi để lại trên tuyết, đó là chúng tôi đang tạo nên một hình trái tim giữa cánh đồng. Trước đây tôi đã thấy nhiều hình trái tim. Tôi đã thấy những trái tim lấp lánh đỏ hoặc hồng, những trái tim vẽ bằng bút chì màu, những trái tim phác họa,… Tôi đã được bao quanh bằng những trái tim vào một buổi chiều ở trường học. Nhưng việc tạo được một trái tim lớn trên cánh đồng tuyết đã khiến tôi ngạc nhiên vì chưa từng thấy bao giờ.

Chúng tôi về nhà thu gom những chai đổ đầy nước pha màu đỏ. Chúng tôi đổ nước đỏ vào những dấu hình trái tim của chúng tôi, và tuyết biến thành đỏ. Dù mũi chúng tôi tê cóng, chân tay lạnh buốt, chúng tôi vẫn về nhà lấy nước màu đỏ đem ra đổ vào hình trái tim trên tuyết. Khi hình trái tim đỏ hết, hợp với những cánh hoa uất kim hương (tulips) trong vườn hoa mùa xuân của Mẹ, chúng tôi chất lên xe và Ba lái chúng tôi xuôi xuống đường phía dưới.

Dù chỉ mất vài phút là đến đó, nhưng hình như con đường vẫn dài hơn, không biết chúng tôi có thể nhận ra trái tim đó từ xa hay không, không biết chúng tôi làm vậy có gây ấn tượng với những người nhìn thấy hay không. Chúng tôi rướn người tới, muốn ngắm nhìn hình trái tim hồng trên tuyết. Thật vậy, trái tim chúng tôi ở đó, không đối xứng chính xác nhưng dù sao cũng vẫn có một trái tim. Chúng tôi vui mừng ngắm nhìn “công trình” mà chúng tôi đã cùng nhau tạo ra trước khi về nhà.

Ít là đã 12 năm trôi qua, tôi vẫn nhớ ngày hôm đó. Trái tim mà chúng tôi đã tạo ra trên cánh đồng tuyết hôm đó không khác trái tim của Mẹ: rộng lớn, duy nhất và đại lượng. Cảm ơn Mẹ!

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Chicken Soup for the Soul: Thanks Mom)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Gia đình  | Leave a Comment
Nước mắt Mẹ Feb 20

Ngày ấy hẳn Mẹ là một thiếu nữ đôi mươi duyên dáng và dễ thương, với nhiều mơ ước như những thiếu nữ khác cùng trang lứa. Dĩ nhiên khi ấy chưa có tôi trên cõi đời này. Về sau, tôi mới được Ngoại tỉ tê kể về Mẹ. Ngoại buồn, có khi Ngoại khóc, vì đã “ép duyên” Mẹ để Mẹ chịu đựng nỗi khổ cả một đời. Có thể nói rằng Mẹ không được một ngày vui trọn vẹn cho đến cuối đời. Cuộc đời Mẹ đẫm đầy nước mắt!

Gia đình nhà chồng khá khắt khe theo quan niệm cổ xưa. Chị em chồng lúc nào cũng lườm nguýt, xa cách. Mấy cô em chồng lúc nào cũng như chiếc máy cassette bật sẵn, tự động lặp đi lặp lại điệp khúc như người ta đọc vè: “Mua mâm thì đâm cho thủng, mua thúng thì đựng cho mòn”. Ôi, cái quan niệm “gả bán” thời phong kiến thâm độc quá!

Sáng sớm Mẹ đã phải dậy trước lo cơm nước, cả ngày lại phải quần quật việc đồng áng. Mùa nào việc nấy. Trong cái lạnh như cắt da của thời tiết miền Bắc, Mẹ vẫn phải lội ruộng cấy lúa – nghe Mẹ nói là mùa Chiêm. Tối về lại phải nai lưng xay lúa, giã gạo cho ngày hôm sau. Tôi cứ tưởng tượng cảnh làm dâu của Mẹ mà rợn cả người. Thế mà Mẹ vẫn âm thầm chịu đựng, không nửa lời than thân trách phận. Đau khổ cứ chồng chất lên đôi vai Mẹ!

Khi hai chị tôi trưởng thành, vì thấy cảnh đời mình như vậy, Mẹ không ép gả ai mà cho tự do chọn hướng đời. Anh cả mất sớm. Ngày chị Huệ theo chồng, Mẹ khóc rất nhiều vì thương con, rồi Mẹ lại khóc thương chị mãn phần quá sớm khi tuổi đời mới ngoài 30, bỏ lại 5 đứa con nheo nhóc. Chắc Mẹ an tâm phần nào khi chị Hảo đi tu. Còn tôi thì số phận cứ lận đận mãi, khiến Mẹ đã nhiều lần khóc vì tôi. Năm ấy, ròng rã gần 4 tháng trời (16/6 tới 10/10/1979), lại vào năm trời làm đói kém, Mẹ càng khổ vì phải lo cho tôi nằm viện. Căn bệnh trầm kha của tôi bòn rút bao nhiêu là tình Mẹ. Xa quá, Mẹ già không thăm tôi được nên Mẹ càng buồn và khóc hàng ngày đến rạc người. May mà trời cho tôi qua khỏi!

Sau khi lo vợ cho em trai út, Mẹ để cho tôi tự do đi xa sống tự lập. Bao ngày tháng bôn ba, tương lai vẫn mịt mờ. Tôi biết Mẹ vẫn ngày đêm khóc thầm thương cho đứa con trai tha phương cầu thực mà cuộc sống vẫn bấp bênh như đi trên cầu khỉ. Mỗi lần về thăm, thấy Mẹ xót xa tôi mà tôi nghe lòng quặn đau. Ở xa về tôi không có đồng quà tấm bánh cho Mẹ già, thế mà Mẹ vẫn dành cho tôi những món quà vô giá, tuy mộc mạc chân chất nhưng chứa chan tình yêu thương. Nhìn vóc dáng tiều tụy, mái tóc bạc trắng, và những vết thời gian hằn sâu trên khuôn mặt Mẹ, tôi xót lòng mà không biết làm sao được!

Tình Mẹ bao la quá, tuyệt vời quá! Thế nhưng tôi vẫn chẳng làm được gì cho Mẹ có chút niềm vui. Tôi không muốn khoanh tay mà vẫn đành thúc thủ, dù tôi thực sự không muốn tự biện hộ cho mình. Thân cò Mẹ suốt đời lặn lội trên Bến Lặng Yêu Thương với những giọt nước mắt khổ đau như lại nồng ấm tình thương. Không bao giờ tôi có thể hiểu thấu và không bao giờ tôi có thể đền đáp được tình Mẹ – dù chỉ là một phần nhỏ – vì Mẹ đã vĩnh viễn xa tôi để về bên kia thế giới. Tình Mẹ đã chắp cánh cho tôi và soi bước tôi đi giữa cuộc đời này.

Xin cảm ơn Mẹ, xin thắp nén nhang lòng tưởng nhớ Mẹ, xin được hòa chung với nước mắt Mẹ với niềm thành kính của một đứa con bất hiếu!

TRẦM THIÊN THU

Saigon, 2-11-2011

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Đoản văn  | Leave a Comment