Subscribe RSS

Archive for February 21st, 2012

Trăng trối Feb 21

Nói đến động từ trăng trối là nói đến người sắp chết. Nỗi buồn lan tỏa. Màu tím đượm sầu. Im lặng trĩu nặng. Sâu lắng. Xúc động. Khi chứng kiến một người hấp hối, người ta không khỏi ngậm ngùi, mức độ ngậm ngùi tăng theo tỷ lệ thuận với mức độ thân thích. Có những giọt nước mắt không thể kiềm chế nên chúng tự do trào ra và lăn dài, cõi lòng đau nhói.

Chết là nỗi đau khổ nhất, cả nghĩa đen và nghĩa bóng, và “dầu là Con Thiên Chúa, Đức Kitô đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:8). Chúa Giêsu bị treo trên Thập giá cũng bị coi là thất bại ê chề! Chết là thất bại lớn nhất của nhân loại. Hầu hết con người đều sợ chết, nhưng vẫn có những con người không tham sống, không sợ chết, dám liều thân vì chính nghĩa. Và người sắp chết luôn nói thật.

Trước khi chết, nếu còn gì cần nhắn nhủ, người ta sẽ trăng trối bằng cả tấm lòng. Người nghèo thì chỉ có di ngôn, người giàu thì làm di chúc (chia của cải, đất đai cho con cháu). Đức Kitô quá nghèo, nghèo rớt mồng tơi, nghèo đúng nghĩa: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8:20; Lc 9:58), đến chết cũng bị lột trần. Không chỉ nghèo về vật chất mà Ngài còn “trắng tay” cả về tình cảm: 11 người trong 12 người thân tín nhất của Ngài cũng đang tâm bỏ rơi Ngài. Ngài “trở nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng. Bạn bè thân thích đều kinh hãi, thấy ngoài đường thì ai cũng tránh xa” (Tv 31:12). Nghèo tột cùng trong nỗi cô đơn cùng cực. Ngài nghèo tới mức không còn thể nghèo hơn. Còn ai nghèo hơn Ngài không?

Vì quá nghèo như thế nên Ngài không có của cải để di chúc, mà chỉ có di ngôn: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15:12), là luật sống mà Ngài gọi là “điều răn mới” (Ga 13:24) và là dấu chỉ để thiên hạ nhận biết ai là môn đệ của Ngài (Ga 13:35). Ngài không bông đùa, không nói suông, không bóng gió. Phúc âm theo thánh sử Gioan đã nhắc đến động từ “yêu thương” 14 lần, điều đó càng chứng tỏ yêu thương là điều rất cần thiết, như điều kiện ắt có và đủ. “Luật yêu thương nhau” chính là di ngôn trăng trối của Chúa Giêsu cho mỗi chúng ta trước khi Ngài bị giết chết.

Trong tình yêu chân thật, khoảng cách nhỏ nhất cũng là quá xa, và khoảng cách xa nhất cũng có thể bắc cầu (Hans Nouwens). Tình yêu thương không có biên giới. Cụ thi hào Nguyễn Du đã cảm nhận: “Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Biết cách chấp nhận thì lòng thanh thản. Còn nhạc sĩ Vũ Thành An, khi chưa làm phó tế vĩnh viễn, đã viết trong một Bài Không Tên: “Triệu người quen có mấy người thân, khi lìa trần có mấy người đưa”. Cuộc đời là thế, và Chúa Giêsu đã chịu tình cảnh thế thái nhân tình như vậy. Tuy nhiên, Ngài không cần chúng ta khóc thương Ngài, như Ngài nói với các phụ nữ Giêrusalem: “Đừng khóc thương Tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28). Chúa chỉ muốn chúng ta noi gương Ngài mà yêu thương nhau thật lòng.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con chỉ là hạt bụi li ti mà làm bận mắt Ngài. Xin giúp chúng con biết thực hiện đúng di ngôn của Ngài để ích lợi cho chính chúng con, chứ chẳng ích lợi gì cho Ngài. Xin cho chúng con biết can đảm chấp nhận thực tế – dù phũ phàng, biết đón nhận đau khổ là niềm hãnh diện về Thập giá (Gl 6:14). Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

Thomas Aquinas TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Người tử tù Feb 21

­­Quốc gia nào cũng có những tù nhân, đặc biệt là tử tù. Nhưng có một tử tù đặc biệt nhất và là tử tội độc nhất vô nhị: Đức Giêsu Kitô. Nếu ở thời nay thì hẳn là người ta xử bắn Ngài, còn luật Do Thái thời đó là đóng đinh vào Thập giá.

Biết mình sắp chết thì đa số đều thấy run sợ, nhưng xử bắn “đùng” một cái thì cũng… không đáng sợ lắm. Vả lại, ngày nay người ta còn cho tử tội ăn thỏa thích trước khi chết. Còn Chúa Giêsu, không được ăn, có chăng là chút giấm chua, lại còn bị sỉ nhục, hành hạ, vác thập giá khi bụng đói – vì bị bắt từ đêm hôm trước, sáng hôm sau bị xử, rồi tự vác thập giá đi đến chiều, không hề được ăn uống gì. “Đặc biệt” hơn là Ngài phải vác thập giá, còn các tử tù khác đâu phải vác. Người ta quá ghét Chúa Giêsu, ghét hết mức, ai cũng ghét!

Người Do Thái nói: “Chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp, nhưng vì một lời nói phạm thượng: Ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa” (Ga 10:33), và “Chúng tôi có Lề Luật, chiếu theo Lề Luật thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa” (Ga 19:7). Có lẽ chúng ta chê dân Do Thái cứng lòng tin và độc ác, nhưng nếu là chúng ta ngày nay thì hẳn là Chúa Giêsu bị đánh tại chỗ chứ không tìm cách bắt lúc khác như dân Do Thái đâu. Họ làm sao hiểu ngay khi con hai ông bà thợ mộc ở một xóm lao động nghèo mà lại bảo là Con Thiên Chúa? Khó tin lắm chứ! Thế nên họ cho là Chúa “lộng ngôn”. Thanh niên ngày nay sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay hoặc rút dao đâm ngay nếu ai đó nói “sốc”, thậm chí có người “ra tay” chỉ vì nhìn ngứa mắt, nghĩa là họ không làm gì nên tội cũng đánh chơi vậy!

Người ta luôn nói: “Đa số hơn thiểu số”. Nhiều người đồng ý thì đó là đúng, ít người đồng ý thì đó là sai. Đó là luật bất thành văn mà mọi người đều công nhận. Nhưng thực ra đâu phải đa số là đúng. Hạnh tích các thánh cho chúng ta biết đa số vẫn sai, sai vô cùng.

Có những con người đầy ác ý. Vì không thỏa mãn nhục dục, hai kỳ mục làm chứng gian cho bà Su-san-na, nhưng Thiên Chúa đã dùng Đa-ni-en minh oan cho bà (x. Đn 13:1-62). Nhiều nhân chứng cũng đâu hẳn là đúng. Người trên muốn đè bẹp người dưới, người ỷ quyền cậy thế muốn chứng tỏ thế lực. Lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng. Nhưng họ quên rằng “hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu” (ngậm máu phun người thì miệng mình dơ trước).

Ðn 3:1-20 thuật lại: Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo làm một pho tượng bằng vàng cao sáu mươi thước, ngang sáu thước, sai người triệu tập các thống đốc, thủ lãnh, tổng trấn, các cố vấn, các quan coi ngân khố, các luật sĩ, thẩm phán và tất cả các quan chức hàng tỉnh đến khánh thành pho tượng. Chính đức vua đã truyền rằng khi nghe tiếng tù và, tiếng sáo, tiếng đàn dây, đàn sắt, đàn cầm, tiếng kèn và đủ thứ nhạc cụ, mọi người phải sấp mình thờ lạy pho tượng vàng, và kẻ nào không sấp mình thờ lạy sẽ bị ném vào đống lửa đang cháy phừng phực. Nhưng Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô không thờ lạy pho tượng vàng nên vua Na-bu-cô-đô-nô-xo thịnh nộ. Vua lên tiếng truyền đốt lò lửa mạnh hơn gấp bảy lần và ném họ vào lò lửa, nhưng Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô không hề hấn gì.

Và rồi vua Na-bu-cô-đô-nô-xo cất tiếng nói: “Chúc tụng Thiên Chúa của Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô, Người đã sai thiên sứ đến giải thoát các tôi tớ của Người là những kẻ đã tin tưởng vào Người”.

Bà Su-san-na được Đa-ni-en minh oan. Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô được tự do nhờ vua Na-bu-cô-đô-nô-xo nhận ra Thiên Chúa, và ông đã tuyên bố: “Ta truyền rằng bất cứ người nào thuộc bất cứ dân tộc, giống nòi, ngôn ngữ nào dám nói điều gì sai quấy, phạm đến Thiên Chúa của Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô, sẽ bị xử lăng trì, và nhà chúng sẽ trở thành đống bùn, bởi vì không có thần nào khác có thể cứu được như thế”. Những người như vậy được Chúa cứu nhãn tiền.

Còn Chúa Giêsu không được minh oan. Mà còn ai dám minh oan, vì ngay các môn đệ thân tín nhất cũng sợ bị liên lụy mà bỏ rơi Ngài rồi. Thế nên, ai có hỏi gì thì Ngài cũng chỉ im lặng, đến nỗi vị thượng tế nói: “Ông không nói lại được một lời sao?” (Mt 26:62). Nói gì khi người ta không muốn nghe, không muốn biết, không muốn hiểu? Làm đúng bị coi là sai, làm gì cũng bị xét nét, cầu nguyện thì như bị làm ngơ, nên Chúa Giêsu đã thốt lên: “Cha ơi! Sao Cha nỡ bỏ rơi con?” (Mt 27:45), nhưng Ngài vẫn nhận ra Ý Cha và sẵn sàng tuân phục. Chỉ khi được hỏi có phải là Con Thiên Chúa hay không thì Chúa Giêsu mới trả lời: “Chính ngài vừa nói” (Mt 26:64).

Người ta ghét cay ghét đắng Chúa vì cho rằng Ngài xúi giục dân chúng nổi loạn, xách động dân chúng. Họ sợ bị lấn quyền mà đổ oan cho Chúa. Cai-pha xác định: Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11:50). Thật vô lý! Tuy nhiên, đó lại là Thánh Ý Thiên Chúa mầu nhiệm: Đức Giêsu phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, mà còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối (Ga 11:51-52).

Trước mắt con người, Giêsu Kitô là một tử tội đáng khinh bỉ, đáng nguyền rủa, đáng bị trừng phạt và “đáng đời” – vì Ngài không bằng tên cướp tử tội Baraba. Nếu chúng ta ở thời đó thì chắc gì chúng ta đã hơn dân Do Thái? Nếu vậy thì thật may là chúng ta có được một đức tin tông truyền hằng ngàn đời qua, thế mà đôi khi chúng ta vẫn không tránh được những lúc chao đảo!

Chết không là hết. Chết không là thất bại. Chết là sống muôn đời (Thánh Phanxicô Khó nghèo). La-da-rô đã chết 4 ngày, nặng mùi rồi, thế nhưng ông liền ra khỏi mồ khi Chúa Giêsu gọi đích danh. Và rõ ràng nhất là “người tử tội” Giêsu khả dĩ phục sinh khải hoàn – dù có những người không muốn tin và phao tin đồn nhảm!

Lạy Chúa Giêsu, vì vâng lời Chúa Cha và vì muốn cứu độ chúng con mà Ngài phải chết nhục nhã ê chề, xin nâng đỡ và hướng dẫn chúng con biết chết cho chính tội lỗi của mình để cùng phục sinh với Ngài. Xin hiệp nhất chúng con và quy chúng con về một mối. Xin cho chúng con nhận ra nhiều cách phụng sự Chúa, và xin đừng để những cách đó trở thành vô ích. Amen.

Thom. Aq. TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Thập giá Feb 21

Thập giá – đau khổ và nhục nhã

Thập giá là dụng cụ nhục hình dành cho các tội nhân thời đó. Thập giá là biểu tượng của sự thử thách, của nỗi khổ đau. Trong cuộc sống, dù muốn dù không, chúng ta vẫn gặp và chịu đựng nhiều thứ trái ý. Thật vậy, bị áp bức hoặc không làm gì được người kia thì đành phải chịu thua. Đó là “bị” vác thập giá, bị nhục nhã. Người Việt có câu: “Một sự nhịn, chín sự lành”. Nhưng người ta thường “nói đùa” là “một sự nhịn, chín sự… nhục”.

Tuy nhiên, Thập giá cũng chính là dụng cụ nhục hình mà Chúa Kitô đã chịu đóng đinh vào, và Ngài đã chết trên đó để cứu chuộc nhân lọai. Ngài đã bị nhục nhã ê chề, vì hình phạt đóng đinh vào Thập giá chỉ dành cho những tên tội phạm “khét tiếng”. Không chỉ là bị đóng đinh vào Thập giá mà Ngài còn bị lột trần. Vô cùng nhục nhã. Thậm chí các môn đệ chí thiết cũng tìm cách rời xa Ngài vì sợ bị liên lụy. Chúa Giêsu đã bị liệt ngang hàng với cỡ tội phạm nguy hiểm như Baraba hoặc Osama bin Laden. Có lẽ không còn sự nhục nhã nào hơn nữa!

Thập giá – hy vọng và quang vinh

Thập giá còn có nghĩa là bất cứ thử thách đau khổ nào mà Kitô hữu phải chịu, và tự nguyện chấp nhận, để được kết hợp với Chúa và cộng tác với Ngài trong việc cứu rỗi chính mình và các linh hồn. Như thế, Thập giá không còn là nhục hình mà lại trở thành một mầu nhiệm được mặc khải, được Chúa dạy khi Ngài nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Thầy” (Mt 16:24; x. Mt 10:38 và Lc 14:26-27). Mầu nhiệm Thập giá là một trong các chủ đề chính yếu của các thư thánh Phaolô (Rm 5:8; I Cr 1:17; Gl 4:16 và Pl 2:6-11).

Trên Cây Thánh Giá, Chúa Giêsu là Đấng vô tội nhưng đã bị vu cáo, là Đấng Công chính nhưng đã bị kết án, là Đấng Chí Thánh nhưng đã bị đày ải, là Vua Trời Đất nhưng đã bị hành hạ nhục nhã và bị đóng đinh chết tức tưởi, là Con Thiên Chúa toàn năng nhưng đã bị thóa mạ, bị chà đạp và bị từ chối, là Ánh Sáng nhưng đã bị tối tăm vây phủ, là Đấng vô cùng cao sang nhưng đã bị trần truồng tủi hổ, chịu chết treo trên hai miếng gỗ, là Sự Sống nhưng đã phải trút hơi thở cuối cùng, là Sự Chết nhưng cũng là Sự Sống Lại.

Thánh Jean Chrysostome (Gioan Kim khẩu) suy niệm: “Cây Thánh Giá là hy vọng của các Kitô hữu, là sự sống lại của kẻ chết, là sự hướng dẫn cho kẻ mù, là cây gậy cho người què, là sự an ủi cho kẻ nghèo khổ, là sự kềm hãm của kẻ giàu sang, là sự hành hạ đối với kẻ xấu xa, là sự chiến thắng ma quỷ, là kẻ chỉ đạo cho người thanh niên, là bánh lái cho những người vượt sóng, là cửa biển cho những kẻ đi xa, là thành lũy cho những kẻ bị vây hãm”.

Thập giá là chìa-khóa-Nước-Trời, là chìa-khóa-vạn-năng giúp chúng ta xử lý bất kỳ trường hợp nào trong cuộc sống. Khi cô đơn, đau khổ, vất vả, thất vọng, lo sợ, tủi nhục,… cứ ngước nhìn Thập giá Đức Kitô thì người ta sẽ tìm được ủi an, nâng đỡ và bình an. Thánh Jean Chrysostome nói: “Hiểu đau khổ, đón nhận đau khổ, tiến dâng đau khổ, đó là nguồn sống hạnh phúc hoan lạc. Chiến đấu với tội lỗi là chiến đấu với đau khổ”. Với Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu: “Có Chúa, tất cả đau khổ thế trần là thần lương bổ dưỡng, và tất cả an ủi thế trần trở nên cay đắng”.

LM Anton Torès viết: “Vác Thánh giá mà không có gì an ủi, đó là lúc ta đang bay bổng trên đường trọn lành; khi cầu nguyện mà không nghe động tình vui thú an ủi, đó là cách cầu nguyện rất hữu ích cho linh hồn”. Một Saolê hung hãn bắt đạo đã trở nên một Phaolô hăng say rao giảng về Thập giá: “Lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa. Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (I Cr 1:18, 25).

Cứ ngỡ Thập giá là nhục nhã nhưng lại là niềm hy vọng và vinh quang. Bác học Voltaire đã thốt lên: “Lạy Chúa, con đã chiến đấu 60 năm vì vinh quang Ngài” (Mon Dieu, j’ai combattu soixante ans pour Ta gloire). Chiến đấu thì phải đau khổ, có đau khổ mới có vinh quang. Trong một chương trình phát thanh, đài Nguồn Sống xác định: “Chúa không cần người có tài, nhưng Ngài cần người mà Ngài có thể dùng”. Đó là những người xả thân vì Đức Kitô, không có tài sẽ được Ngài hỗ trợ – như Samuel, thánh nữ Faustina,… Có tài thì vẫn tốt, nhưng Chúa cần có đức trước, như người Việt thường nói: “Tiên học lễ, hậu học văn” vậy. Chúa Giêsu có những cái “ngược đời”, nhưng đó lại là những điều tối cần thiết để sống hữu ích cho chính mình, cho tha nhân, cho Giáo hội, cho tổ quốc, cho xã hội – hôm nay và ngày mai. Chúa Giêsu bị treo trên Thập giá và Ngài kéo chúng ta lên. Ngài lên cao và vinh quang qua con đường Thập giá thì chúng ta cũng nhờ Thập giá mà hy vọng được lên cao và chung hưởng vinh quang với Ngài.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con thật lòng yêu mến và say mê Thập giá để khả dĩ là khí cụ của Ngài, dám sống “ngược đời” như Ngài, và như mong muốn “không giống ai” của Thánh Phaolô: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài Thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6:14).

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Si tình Feb 21

Trong cơ thể con người, đa số là nước, các chất khác không đáng kể, phân chất ra để bán thì không có gì đáng giá. Nhưng cái vô giá lại là máu. Gọi là máu vì có màu đỏ, khác nước, nhưng cũng đều là chất lỏng. Nước nhiều nghĩa là con người rất… “mềm”, có thể đồng nghĩa với rất yếu đuối! Thế nên thánh Phaolô đã “tự thú”: “Điều tôi muốn thì tôi lại không làm, điều tôi không muốn thì tôi lại làm” (Rm 7:19).

Não bộ là trung tâm điều khiển, nhưng trái tim mới chính là “trung tâm sự sống”, là nguồn sống. Những người bị điên khùng, bị thiểu não, hoặc bị bại não và sống thực vật, thậm chí là chết lâm sàng, nhưng họ vẫn sống nhờ trái tim hoạt động. Tim hoạt động nghĩa là máu còn lưu thông. Vậy MÁU rất quan trọng cho sự sống. Chúng ta thường nói người này hay người nọ “máu lắm” là vậy. Cũng chính vì máu đó mà Thánh Tâm Chúa Giêsu là “lò lửa yêu thương” hằng cháy bừng. Nhưng máu Ngài không bạo động, không thù hằn, không ghen ghét,… mà máu Ngài chỉ đầy chất YÊU. Chẳng vậy mà trước khi chết, Ngài còn “làm phép” để trao ban chính Máu Thịt Ngài làm thần lương nuôi sống chúng ta hằng ngày. Độc chiêu quá!

Đáng lẽ chúng ta, những tội nhân, phải bị Thiên Chúa trừng phạt vì đã phạm những tội quá kinh khiếp và tái phạm quá nhiều lần, tiếp tay với Giuđa và ăn chia với ma quỷ, đồng thời lại “rửa tay” như Philatô, nhưng Thiên Chúa đã bắt chính Con Yêu Dấu là Chúa Giêsu “phải” chịu hình phạt là chết thay cho chúng ta. Chúa Giêsu biết mình bị hàm oan nhưng Ngài hết lòng tuân phục Cha nên vui nhận cái chết nhục nhã ê chề nhất: “Đức Kitô đã cứu chuộc chúng ta khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, trong khi vì chúng ta mà chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ!” (Gl 3:13).

Đại văn hào Victor Hugo nói: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Con người còn cảm nhận được điều “khác người” đó huống chi Đức Kitô. Quả thật, Ngài là một người si tình độc nhất vô nhị, phàm nhân không đủ ngôn từ để diễn tả!

Có hai người, A làm lỗi, B không làm lỗi. Nhưng A cứ đổ riệt cho B và cha mẹ cũng nhất quyết xử phạt B. Nếu chúng ta là B thì sao? Hẳn là chúng ta phản đối kịch liệt, cần thiết thì sẽ nhờ tòa án phân xử.

Còn Chúa Giêsu, Ngài “khác nào con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt” (Gr 11:19), không hề ý kiến, không một lời than thân trách phận, và cũng không trách kẻ đã làm hại mình, thậm chí còn tha thứ cho kẻ dã tâm đó: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không hiểu việc họ làm” (Lc 23:24). Kẻ thủ ác cố ý mà Ngài vẫn nghĩ tốt cho họ, nói là “họ không hiểu”. Cchúa quá “khác người” và “ngược đời” hết cỡ thợ mộc!

Tại sao Đức Kitô phải chết? Vì yêu thương chúng ta, yêu thật lòng, yêu hết mức, yêu tới nơi tới chốn, yêu như cuồng như dại, yêu đến cùng, tình yêu thương đó đã khiến Ngài chảy đến giọt máu và giọt nước cuối cùng.

Chúa Giêsu hành động chứ không nói để mà nói. Ngài làm trước và đòi buộc chúng ta cũng phải làm như Ngài: “Hãy yêu kẻ thù, hãy làm điều tốt cho người ghét mình” (Lc 6:27). Ngài không hưởng thụ mà toàn tâm toàn lực phục vụ: “Tôi đến để phục vụ chứ không để được phục vụ” (Mt 20:28).

Lạy Chúa Giêsu, là Trưởng Tử, là Thầy, là Người Yêu và là Bạn Hiền của chúng con! Ngài ra đi để chuẩn bị cho chúng con sẽ theo Ngài về với Cha nay mai, kẻ trước người sau, xin giúp chúng con biết chết cho chính tội lỗi của mình để xứng đáng cùng Ngài phục sinh vinh quang. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
CÔ ĐƠN và NHỤC NHÃ Feb 21

NỖI CÔ ĐƠN

Bạn có bao giờ cảm thấy cô đơn cùng cực hoặc bị nhục nhã ê chề? Chắc hẳn ai cũng đã từng hơn một lần có cảm giác như vậy. Nhưng có lẽ nỗi cô đơn và nhục nhã của chúng ta không là gì so với Chúa Giêsu. Mọi người đều phản đối Ngài, ghét Ngài và đồng thanh: “Đóng đinh nó vào thập giá” (Mt 27:22). Ngài không bằng tên cướp khét tiếng Baraba. Trước mắt mọi người, Chúa Giêsu là kẻ thua cuộc và hoàn toàn chiến bại!

Tại vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu chỉ tâm sự với Phêrô và hai con ông Dêbêđê: . Nỗi buồn rầu và lo sợ quá lớn khiến bản tính con người nơi Ngài tưởng chừng không chịu nổi. Và rồi Ngài đã phải thốt lên: “Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39).

Thật vậy, nỗi cô đơn quá lớn! Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Ngài càng cô đơn hơn, vì ngay cả các môn đệ – những người đã bao năm đồng hành với Ngài, từng khâm phục Ngài, từng từ bỏ tất cả để theo Ngài và cùng chia vui sẻ buồn với Ngài – mà giờ đây cũng chuồn hết, rời bỏ Ngài, chỉ dám đứng xa xa, thậm chí còn chối bỏ Ngài, không dám nhận Ngài là người thân. Và rồi Ngài lại thốt lên trong nỗi cô đơn tột đỉnh: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài nỡ bỏ rơi con?” (Mt 27:46). Thực sự đó là cảm giác tứ cố vô thân!

Có lẽ không còn nỗi cô đơn nào lớn hơn thế nữa, cảm giác mà mình thấy hầu như những người thân nhất cũng ghét bỏ mình, xa lánh mình. Khi đó, người ta không còn biết nói gì – vì không ai hiểu mình, không có ai để trút bầu tâm sự, mình nói đúng cũng bị cho là sai!

SỰ NHỤC NHÃ

Chính Giuđa đã dùng nụ hôn để làm dấu hiệu ai là Giê-su để bọn thủ ác bắt. Nụ hôn là biểu hiện yêu thương, nhưng Giuđa lại dùng nụ hôn để biểu hiện lòng phản trắc. Sau khi bắt và dẫn Ngài đi, họ lột trần Ngài, bịt mắt Ngài, khạc nhổ vào mặt Ngài, đấm đánh hung bạo và tát Ngài, rồi còn mỉa mai: “Ông Kitô ơi, hãy nói tiên tri cho chúng tôi nghe đi: ai đánh ông vậy?” (Mt 26:67-68; Lc 22:64). Chưa thỏa lòng, họ còn kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Ngài và trao cho Ngài một cây sậy làm vương trượng, rồi chế nhạo: “Vạn tuế Vua dân Do thái” (Mt 27:29).

Kẻ qua người lại cũng đều nhục mạ Chúa Giêsu, họ vừa lắc đầu vừa nói: “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong 3 ngày lại xây được, hãy tự cứu mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa thì xuống khỏi thập giá xem nào!” (Mt 27:39). Nhục nhã quá!

Trên Đồi Sọ, người ta nhẫn tâm cho Người uống rượu pha mật đắng (Mt 27:33-34), lại còn thách thức: “Hắn cậy vào Thiên Chúa thì bây giờ Chúa cứu hắn đi, nếu quả thật Chúa thương hắn” (Mt 27:43). Khi Ngài bị đóng đinh và treo trên thập giá, đau đớn vô cùng vì mồ hôi và máu ra nhiều, Ngài kêu “khát” thì họ lấy miếng bọt biển thấm đầy giấm, rồi buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Ngài uống (Mt 27:48; Lc 23:36).

Ngài chịu nhục nhã ê chề đến tột cùng, nhưng Ngài vẫn im lặng, không than thân trách phận và cũng không hề trách những người nhục mạ mình, mà Ngài lại cầu nguyện cho họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Bị sỉ nhục vậy mà Ngài vẫn độ lượng và yêu thương vô bờ bến, vô điều kiện, làm sao phàm nhân khả dĩ hiểu thấu?

Cuối cùng, Chúa Giêsu kiệt sức và nói: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46). Ngài chết tức tưởi quá! Nhưng tất cả là đức vâng lời. Trời đất bỗng rung chuyển kỳ lạ. Thấy vậy, những người giết Ngài đã phải công nhận: “Quả thật, ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27:54).

CẢM NHẬN

Chúa Giêsu đã từng cảnh báo: “Tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối” (Mt 26:41). Thân phận con người quá mỏng dòn và yếu đuối, đầy sai lầm và tội lỗi. Rất cần có Chúa! Thánh Têrêsa, có lần sau nỗi cô đơn xao xuyến, cũng đã thắc mắc: “Hồi nãy Chúa ở đâu?”. Chúa trả lời: “Cha vẫn cùng con chiến đấu”.

Tôi cũng đã có những lúc cảm thấy lạc loài những khi thân nhân lần lượt giã từ cuộc đời. Tôi cô đơn ngay giữa những người khác vì tư tưởng mình không hợp với những họ, và có vài lần tôi đã vấn nguyện: “Sao Chúa bỏ rơi con? Chúa còn thương con không?” (x. Mt 27:45). May mà vẫn duy trì được niềm tin vào Thiên Chúa. Cảm nhận một chút nào đó về nỗi cô đơn và nhục nhã của Chúa Giêsu để có thể tiếp tục hành trình cuộc sống, dù chông gai và cạm bẫy rất nhiều trên đường đời – hôm nay và ngày mai.

Lạy Chúa, xin Ngài luôn đồng hành, độ trì và nâng đỡ chúng con. Xin cho chúng con kiên vững ba đức đối thần và biết phát triển các đức đối nhân. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, vì cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Đức Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Cô đơn, Sợ hãi và Yêu thương Feb 21

Bạn có bao giờ cảm thấy cô đơn tột cùng? Hoặc có bao giờ hoang mang và sợ hãi? Cô đơn thường liên quan lo sợ, và lo sợ có liên quan cô đơn. Phải chăng đó là một hệ lụy tất yếu?

“Cô đơn” khác “một mình”. Bạn có thể chỉ có một mình (sống một mình, ngồi một mình, làm việc một mình,…), nhưng có thể bạn không hề cô đơn, vì bạn đang “bận” suy nghĩ điều gì đó: Tìm tứ thơ, tìm ý nhạc, tìm cách xử lý vấn đề nào đó, đang nghĩ về người thân yêu, và nhất là đang cầu nguyện,… Nhưng khi bạn có điều gì buồn, bạn vẫn có thể cảm thấy cô đơn và trống trải, dù xung quanh bạn có rất nhiều người, bạn có thể cô đơn ngay trong đám tiệc, thậm chí cô đơn ngay trong gia đình mình.

Nỗi cô đơn thật đáng sợ biết bao!

CÔ ĐƠN

Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Chúa Giêsu tâm sự với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (Mt 26:38). Nỗi lo buồn quá lớn đến nỗi có thể “chết được”. Ngài muốn các môn đệ thân tín cùng canh thức để chia sẻ nỗi buồn “chết người” kia, nhưng bản chất con người yếu đuối, thân xác nặng nề, họ không đủ sức canh thức với Thầy mình nên họ đã “vô tư” lăn ra ngủ khò. Thấy vậy, Chúa Giêsu càng buồn hơn và càng cô đơn hơn.

Cô đơn nối tiếp cô đơn. Chúa Giêsu càng cô đơn hơn khi Giuđa lại nỡ lòng dùng chính nụ hôn để phản bội Ngài: “Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 13:18). Rồi nỗi cô đơn của Chúa Giêsu lại nhân lên khi thấy môn đệ thân tín nhất là Phêrô cũng đang tâm chối bỏ Thầy mình, không chỉ 1 lần mà đến 3 lần (x. Mt 26:69-75).

Cuối cùng, nỗi cô đơn ấy lên tột đỉnh khi Chúa Giêsu bị treo trên Thập giá, loại hình xử tử nhục nhã nhất thời đó chỉ dành cho những tử tội độc ác khét tiếng. Cô đơn quá, thế mà Chúa Cha vẫn lặng im, cho nên Ngài đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27:45). Điều này đã được tác giả Thánh vịnh 22 tiên báo: “Lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?” (Tv 22:2).

Đầu năm 2012, cái lạnh kéo dài cả tháng trời, hằng trăm người Âu châu đã chết vì lạnh cóng, lạnh đến nỗi những tảng đá trong suốt như pha lê. Những người Phi châu đang phải “sống mòn” trong nỗi cô đơn vì sự đói khát từng ngày. Nỗi cô đơn cũng đồng nghĩa với “cái lạnh tâm hồn”. Cái lạnh thời tiết không đáng sợ bằng cái lạnh trong tâm hồn. Người khác bị cô đơn cũng có phần trách nhiệm của chúng ta, đó liên đới trách nhiệm. Sự im lặng đáng sợ của chúng ta là cách chúng ta loại bỏ và giết chết người khác không cần vũ khí!

Thánh Thomas Aquinô nói: “Khi chúng ta cho là cô độc thì Thiên Chúa ở bên chúng ta. Khi tất cả đều bỏ chúng ta thì Thiên Chúa vẫn yêu thương chúng ta”. Còn Thánh Augustinô nói: “Ngài có đó khi ta tưởng mình đơn côi, Ngài nghe ta khi chẳng có ai đáp lại, Ngài thương ta khi tất cả đều hững hờ”. Chúng ta không là “cái đinh” gì, chỉ là bụi đất hèn mọn, thế mà Ngài vẫn yêu thương: “Thiên Chúa yêu chúng ta, ban ơn cho chúng ta mà hoàn toàn không muốn chúng ta báo đáp; phàm tất cả những gì của chúng ta, ngay cả cái yếu đuối, Ngài cũng yêu” (Thánh Têrêsa Hài Đồng). Thật may mắn và hạnh phúc!

Nỗi cô đơn của chúng ta chắc chắn không là gì so với nỗi cô đơn của Chúa Giêsu. Ngài không chỉ cô đơn từ vườn Ghết-si-ma-ni tới đồi Gôn-gô-tha, mà Ngài còn gánh chịu đủ loại nỗi cô đơn cho chúng ta dù chúng ta chỉ là những người hoàn toàn bất xứng.

Ngày nay Chúa cũng vẫn phải chịu cô đơn vì chúng ta. Tại sao? Vì chúng ta vẫn thờ ơ với Ngài, quay lưng lại với Ngài, bỏ ngoài tai những lời Ngài truyền dạy, không tìm đến tâm sự với Thánh Thể, không tắm gội trong Nước Hồng Ân Tha Thứ từ Bí tích Hòa giải, không thể hiện lòng thương xót và không quan tâm tha nhân. Chính chúng ta đã và đang làm nỗi cô đơn của Chúa Giêsu tăng theo cấp số nhân!

SỢ HÃI

Tại vườn Ghết-si-ma-ni, Chúa Giêsu chỉ cho 3 môn đệ thân tín nhất đi theo, đó là 3 trong 4 môn đệ đã được Ngài kêu gọi đầu tiên: Phêrô và hai anh em con ông Dêbêđê. Nhưng họ không an ủi Ngài mà lại làm cho Ngài cô đơn và sợ hãi hơn khi họ vẫn “vô tư”. Thời gian cứ ngắn dần. Toát mồ hôi hột. Giờ G sắp đến, giờ của sự ác. Nỗi sợ hãi bao trùm như màn đêm tối đen, và theo nhân tính, Chúa Giêsu cũng thấy run sợ trước viễn cảnh hãi hùng khi tưởng tượng những nhát búa căm hờn đóng những cây đinh ghim thấu chân tay Ngài, nên Ngài xin với Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39).

Vâng, “nếu có thể” thôi. Và đó chỉ là một giả thuyết. Chúa Cha vẫn im lặng như giả câm giả điếc, Chúa Giêsu càng sợ hãi, nhưng khi Ngài biết đó là Ý Cha và vì yêu thương nhân loại tội lỗi, Ngài lại thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng Ý Cha” (Mt 26:42). Một lời “xin vâng” vì tuân phục trong sự vui mừng chứ không hề miễn cưỡng.

Chúa Giêsu khi mặc xác phàm còn sợ hãi như vậy huống chi chúng ta, những phàm nhân “thuần túy”. Tuy nhiên, rất nhiều lần Chúa Giêsu động viên: “Đừng sợ!” (Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5; Mt 28:10; Mc 5:36; Mc 6:50; Lc 1:13 & 30; Lc 2:0; Lc 5:10; Lc 12:4; Lc 12:7; Lc 12:32; Lc 21:9; Ga 6:20). Chúa Giêsu hiểu và thông cảm với chúng ta, thế nên Ngài không chỉ động viên chúng ta can đảm “đứng dậy” mà Ngài còn hứa chắc nịch: “Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Ngài không bao giờ hứa suông, không bao giờ nuốt lời. Khi chúng ta cô đơn và sợ hãi, chính Ngài vác chúng ta trên vai. Hãy tín thác vào Ngài, vì Ngài dày kinh nghiệm đau thương, chắc chắn Ngài không bỏ rơi chúng ta phải “đơn thương độc mã” đâu. Vả lại, “không có Ngài thì chúng ta chẳng làm được gì” (Ga 15:5).

YÊU THƯƠNG

Con người đầy Tham-Sân-Si nên thường bị cô đơn và sợ hãi, do đó mà cần lắm tình yêu thương, vì chính Chúa Giêsu nhắn nhủ: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (Ga 13:34).

Nói yêu thương thì dễ, mà thực hành yêu thương thì không dễ chút nào: “Ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4:20).

Thiếu yêu thương đích thực thì con người rất dễ thay lòng đổi dạ, như trở bàn tay. Mới vài ngày trước, người ta lũ lượt, kẻ trước người sau, đua nhau lấy áo và lá lót đường cho Chúa Giêsu cưỡi lừa đi qua, họ tung hô vang dội: “Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời!” (Mt 21:9), thế mà chỉ vài ngày sau họ “lật mặt” ngay mà nói: “Hắn đáng chết!” (Mt 26:66) và đồng thanh hô to: “Đóng đinh hắn vào thập giá!” (Mt 27:22 & 23; Mc 15:13 & 14; Lc 23:21; Ga 19:6 & 15).

Ai muốn nói gì thì nói, Chúa Giêsu vẫn im lặng, ngay cả khi bị người ta nhục mạ và thách thức: “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!” (Mt 27::40). Ngay cả tên cướp cùng chịu án tử với Ngài cũng chưa biết thân mà vẫn gân cổ sỉ vả Ngài. Thế nhưng, tình yêu Thiên Chúa vẫn cuồng si, lòng thương xót của Chúa vẫn trước sau như một, thế nên Ngài không chỉ không oán trách mà còn xin với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).

Chúng ta cũng vậy, hằng ngày chúng ta thường xuyên nhục mạ và mưu sát Chúa Giêsu nhiều lần, thế mà Ngài vẫn cho là chúng ta lầm, là không biết việc mình làm. Kỳ diệu quá!

Lạy Thiên Chúa, nỗi cô đơn “chết người” và nỗi sợ hãi tột cùng vẫn không thể vượt qua Lòng Thương Xót vô biên của Chúa Giêsu, Con Yêu Dấu của Cha, xin thương giúp chúng con can đảm vượt qua mỗi khi gặp nghịch cảnh, dám chết cho tội mình, dám chết với Đức Kitô để chúng con có thể được phục sinh với Người. Xin Chúa thương xót và đồng hành với chúng con. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Lễ TRO – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Phong thánh cho chân phước Pedrom Calungsod Feb 21

PHILIPPINES (UCANews, 20-2-2012) – Người Công giáo vui mừng vì Tòa thánh vừa thông báo ngày phong thánh cho chân phước Pedrom Calungsod. Chân phước Pedrom Calungsod sẽ là vị thánh thứ nhì của Philippines.

ĐGM Jose Oliveros, GP Malolos, nói: “Chúng tôi rất vui vì chúng tôi sẽ có vị thánh thứ nhì là người Philippines”.

Ngài nói rằng thánh Calungsod, cũng như vị thánh đầu tiên của Philippines là Lorenzo Ruiz, là một giáo dân.

ĐGM Jose Oliveros nói: “Điều này cho thấy rằng giáo dân có thể đáp lại lời mời gọi nên thánh”.

Đức TGM Ramon Arguelles, TGP Lipa, nói rằng việc phong thánh cho giáo dân Calungsod là một dấu chỉ về “tầm quan trọng của các tín hữu không có chức thánh trong Giáo hội Á châu”.

Những người dự lễ tại Cebu đã hô to: “Viva San Pedro de Cebu” (Hoan hô Thánh Pedro của Cebu) sau khi tin được loan đi hôm Chúa nhật 19-2-2012.

ĐHY Emeritus Ricardo Vidal, TGP Cebu, viết trên Facebook: “Tôi xin cảm ơn mọi người đã góp phần trong việc phong thánh cho chân phước Pedro. Tôi hy vọng rằng phép lành của ngài sẽ giúp liên kết mọi người, đem lại hòa bình và hòa thuận”.

Giáo dân Calungsod là nhà truyền giáo tại Guam năm 1672, tử đạo khi mới 18 tuổi, được chân phước GH Gioan Phaolô II phong chân phước năm 2000.

ĐHY Angelo Amato, bộ trưởng Bộ phong thánh, xác nhận rằng ĐGH Biển Đức XVI sẽ chủ tế thánh lễ phong thánh cho giáo dân Calungsod và 6 vị khác vào ngày 21-10-2012.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Buôn bán người gia tăng ở Nepal Feb 21

Tác giả RUPA RAI (*)

Khó khăn về kinh tế đang làm gia tăng việc buôn bán người ở Nepal. Lạm phát tăng, kém phát triển kinh tế và xung đột giữa các đảng phái chính trị dẫn đến việc gia tăng số phụ nữ, các em trai và các em gái bị bán với nhiều dạng lạm dụng.

Khi không có dữ liệu về việc buôn bán người mang tính quốc tế ở Nepal, vẫn thiếu những dữ liệu đáng tin cậy về tình trạng vượt biên giới. Các nguồn tin cho biết hàng năm có 5.000-7.000 người bị bán ra khỏi Nepal.

Phân tích việc buôn bán người ở Nepal rất khó vì thiếu sự đồng tình về điều gây ra việc buôn bán người. Thỏa hiệp về việc buôn bán người của Hiệp hội Nam Á về Hợp tác Vùng miền xác định hẹp nghĩa việc buôn bán người là “di chuyển, mua bán phụ nữ và trẻ em để làm mại dâm”. Còn Bản dự thảo về việc buôn bán người của Liên hiệp quốc mô tả việc buôn bán người là lợi dụng hoặc bắt người khác làm mại dâm, cưỡng bức lao động hoặc bắt phục dịch, bắt làm nô lệ hoặc các động thái tương tự nô lệ và phục dịch. Tầm quan trọng của phần định nghĩa sau là áp dụng cho hết mọi người và có thể áp dụng đối với Nepal và Nam Á ngày nay, những nơi có nhiều phụ nữ, các em trai và các em gái, kể cả đàn ông đang bị buôn bán vì nhiều mục đích lạm dung khác nhau.

Nhiều báo cáo nghiên cứu cho thấy việc buôn bán người không thể so sánh trực tiếp vì dùng nhiều cách phân tích. Cho nên ước tính nhiều người bị buôn bán rất khác nhau, không thống nhất. Đối với Nepal và các nước Nam Á khác, nhiều cách ước tính đặc biệt đối với những năm 1990-2000 và nay đã lỗi thời. Do đó, cách tính nào liên quan tầm quan trọng của việc buôn bán người ở Nepal nên được cân nhắc cẩn trọng.

Trẻ em và phụ nữ đang là những nạn nhân của bọn buôn người ở Nepal. Ảnh minh họa

Nhiều nghiên cứu chỉ chú trọng tới việc buôn bán phụ nữ qua biên giới và/hoặc buôn bán trẻ em vào các động mại dâm vì lợi nhuận. Hơn nữa, trong khi có những thông tin tương đối đúng về các vùng và những con đường có chiều hướng buôn bán người, thường theo con đường phi pháp, thì có tương đối ít cuộc nghiên cứu về người bị bán hoặc kẻ buôn bán người.

Lịch sử Nepal và một số nước Á châu về việc buôn bán phụ nữ, nhất là các em gái bị bán làm mại dâm vì lợi nhuận mà thậm chí còn được “bỏ qua”. Với tình trạng thay đổi chính trị, kinh tế và xã hội, các dạng buôn bán người cũng tinh vi hơn. Gần đây, việc buôn bán người trở thành hiện tượng buôn bán người đa phương gia tăng kết hợp với các nhóm tội phạm có tổ chức. Nguyên nhân được xác định là do nghèo đói, thất nghiệp, di trú, hiện đại hóa và đô thị hóa.

Ngày nay, Nepal là gốc cung cấp trẻ em, phụ nữ và đàn ông bị bán sang các nước Nam Á (chủ yếu là Ấn Độ và Pakistan), vùng Á châu Thái bình dương (Malaysia, Hong Kong, Nam Hàn), các nước Trung Đông (Bahrain, Iraq, Israel, Kuwait, Qatar, Ả Rập Saudi, UAE), Mỹ châu và Âu châu. Đa số dân Nepal bị bán phải đi làm mại dâm ở Ấn Độ và Nepal. Họ bị bán vì nhiều mục đích khác nhau như ép hôn và phải phục dịch cho các gia đình, phải làm xiếc, làm việc ở nhà máy, lao động nông nghiệp, làm thợ hồ, làm thợ mỏ, buôn bán ma túy, làm trừ nợ, đi ăn xin, kể cả các mục đích phi pháp khác như làm con nuôi trá hình và hiến tạng.

Tác giả Rupa Rai- trưởng văn phòng Caritas ở Nepal về phát triển giới tính.

Tại 75 quận của Nepal, chính phủ đã xác định ít nhất 26 quận có chiều hướng buôn bán người. Theo ước tính có khoảng 100.000 tới 300.000 cô gái và phụ nữ bị từ Nepal tới các nước khác. Hàng năm, con số này có khoảng 5.000 tới 15.000 cô gái và phụ nữ bị bán qua biên giới Nepal, chủ yếu qua Ấn Độ, làm mại dâm.

Số người bị bán trong nước không biết chính xác. Chỉ riệng ở Kathmandu có khoảng 40.000 các em gái và phụ nữ tuổi từ 12 tới 30 làm việc tại 1.200 các nhà hàng và tiệm mát-xa. Một số khác bị bán làm mại dâm.

Theo ước tính của tổ chức phi chính phủ, mỗi năm có ít nhất 7.500 trẻ em trong nước bị bán làm mại dâm và 20.000 tới 25,000 em gái bị bán làm ô-sin tại các gia đình. Dữ liệu chính thức về các phụ nữ mất tích tại thung lũng Kathmandu cho thấy rằng trung bình có khoảng gần 500 người mất tích mỗi năm.

Theo dữ liệu cân nhắc tầng lớp xã hội và dân tộc, có tới 80% các cô gái và phụ nữ trẻ bị bán làm mại dâm đến từ Dalit, Janajati, và Madheshi. Có tới 94% là các cô gái trẻ từ 11 tới 25 tuổi. Theo số liệu chính thức của cảnh sát, từ 70% tới 90% là phụ nữ và các em gái còn sống sót. Tuy nhiên, động lực buôn bán người đang thay đổi và gia tăng về số đàn ông và các em trai bị bán sang Ấn Độ và các nước khác vì nhiều mục đích khác nhau, kể cả bóc lột sức lao động.

Theo văn hóa Nepal, chấn thương tâm lý thường do bị xã hội xa lánh sau khi họ được cứu thoát. Các chương trình động viên nhận thức có thể cứu vớt nhiều em gái. Chẳng hạn tổ chức Caritas của Nepal đang làm các chương trình phát thanh, những vở kịch đường phố và các tài liệu học hỏi. Tổ chức Caritas đã tổ chức những buổi cầu nguyện, có nhiều vị lãnh đạo các tôn giáo và tổ chức Ngày Quốc tế Phụ nữ bằng cách đề cao sự khốn khổ của các phụ nữ bị bán.

Nhiều hoạt động bảo vệ trẻ em và phụ nữ chống lại nạn buôn người đang được triển khai ở Nepal. Ảnh minh họa.

Ở Nepal, có một em gái mới được cứu thoát. Một thợ dệt thảm tham gia chương trình nhận thức của tổ chức Caritas về hoạt động buôn bán người đã tìm thấy em gái mất tích ở Nam Kathmandu. Phụ nữ này có thể phản ứng nhanh và thông báo cho nhóm người tìm thấy cô gái đó cách biên giới Ấn Độ không xa. Kẻ buôn bán đã bị bắt vô tù.

Để thúc đẩy bình đẳng giới tính và ngăn chặn việc buôn bán người, tổ chức Caritas của Nepal đang xác định các cộng đồng vá các gia đình có người bị bán, thành lập mạng lưới hoạt động và các trung tâm liên lạc, thành lập các nhóm hỗ trợ, chia sẻ các phương pháp, cùng với việc đánh giá cấp thời.

Các chương trình phát thanh giáo dục nhận thức về việc buôn bán người được phát thanh trên tần số Đài Phát thanh Nepal, loại hình này có nhiều người nghe. Chỉ trong năm 2010, đài đã có những chương trình dành cho các công nhân làm thảm, các học sinh và giáo viên. Hàng trăm người đã xem các vở kịch đường phố. Sổ tay “Tư vấn Ngăn chặn buôn bán người” (Advocacy on Prevention of Human Trafficking) cũng được tổ chức Caritas xuất bản năm 2010 và vẫn được phân phối cho các tổ chức phi chính phủ (NGO). Tổ chức Caritas tiếp tục đào tạo và giúp đỡ các gia đình về vấn đề đi lại và di trú an toàn.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ UCANews.com)

(*) Rupa Rai ở Kathmandu, Nepal, là trưởng văn phòng Caritas ở Nepal về phát triển giới tính. Bà cũng là người hợp tác với Chương trình Chống buôn bán Phụ nữ của tổ chức Caritas Xuyên Á châu (2008-2010).

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Xã hội  | Leave a Comment