(*) Theo nghĩa đen, Lynch là lối hành hình phân biệt chủng tộc Mỹ đối với người da đen, xử theo luật giang hồ, không cần xét xử. Do đó có thêm từ Lynch Law, nghĩa là Luật Rừng. Hội chứng này cũng không trừ ai, có thể gọi nôm na là Hội chứng “giang hồ” (chú thích của người dịch).
Archive for the Category "Khoa học - Y học"
KHA ĐÔNG ANH (Chuyển ngữ từ news.discovery.com)
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ News.Discovery.com)
Bạn gái sợ mình nhìn già hơn tuổi thật? Chưa muộn để bạn bắt đầu chăm sóc làn da và đảo ngược quá trình lão hóa. Những gì bạn cần là bộ kem chống lão hóa da tay để trẻ hóa làn da, khiến bạn trông trẻ hơn và cảm thấy hạnh phúc hơn. Hãy quên những vết nhăn bằng các tin chất chống lão hóa này, vì chúng có thể… “níu kéo” thời gian!
KHA ĐÔNG ANH (Chuyển ngữ từ idiva.com)
Tác giả TOM KNOX
Thiên Chúa đã “gặp khó khăn” trong vài năm qua. Trên ti-vi, báo chí và internet, việc tranh luận về mối liên quan trong thế giới hiện đại đa nghi có niềm tin hay không xuất hiện tràn lan và dữ dội. Và vấn đề khá rõ là phe nào nổi nóng nhất.
Từ những cuộc bút chiến vô thần dữ dội (atheist polemics) của Richard Dawkins tới sự nhạo báng công khai của Christopher Hitchens về việc ông Tony Blair gia nhập Công giáo và lời tuyên bố của Stephen Hawking rằng “nhân loại không cần Thiên Chúa”. Điều đó có vẻ như những người không có niềm tin cũng đã tin. Họ có vậy không?
Khi nghiên cứu cuốn tiểu thuyết Bible Of The Dead (Kinh thánh của Kẻ chết), tôi đã mất nhiều tháng tìm hiểu khoa học đức tin đối với thuyết vô thần (atheism), và phát hiện những chứng cớ rất bất ngờ. Có thể chỉ cần thay đổi cách suy nghĩ của bạn về toàn bộ cuộc tranh luận, vì nó đã thay đổi quan điểm của tôi.
Tôi không là người cuồng tín (zealot). Ngược lại, tôi là người vô thần niên thiếu (teenage atheist). Dù tôi đã trưởng thành, tôi vẫn có cảm giác mơ hồ rằng “phải có cái gì đó ở bên ngoài”. Tôi không thường xuyên đi nhà thờ. Trong quá trình tìm hiểu khoa học đức tin, điều mà tôi khám phá ra đã khiến tôi sửng sốt.
Bắt đầu từ 2 năm trước, khi tôi du lịch ở bang Utah, cái nôi của giáo phái đa thê (mormonism). Trong tuần lễ đầu tiên ở đó, tôi tiếp cận tôn giáo kỳ cục này của Mỹ với thuyết khuyển nho (cynicism) chủ yếu của Âu châu. Tôi ghẹo mấy ông nhiều vợ về sở thích “nội y tâm linh” (spiritual undergarments) của họ. Tôi thất vọng vì không thể tìm ra cà-phê sữa đứng đắn (decent cappuccino) – quý ông đa thê không được uống cà-phê, uống rượu, uống trà, hút thuốc lá hoặc “ăn cơm trước kẻng” (premarital sex).
Nhưng rồi tôi có cái để biết rõ. Một đêm nọ, sau khi ăn tối, tôi trở về khách sạn ở Salt Lake City lúc 2 giờ sáng, tôi bất ngờ nhận ra: Mình an toàn. Như mọi du khách đều biết, đây là một kinh nghiệm khá khác thường ở một thành phố Mỹ sau nửa đêm.
Tại sao tôi cảm thấy an toàn? Vì tôi ở trong một thành phố rất nhiều ông đa thê, và các ông này không bao giờ đi cướp giật. Họ có thể làm bạn chán hoặc làm phiền bạn khi họ đến gõ cửa nhà bạn, rình mò niềm tin của bạn, nhưng họ sẽ không tấn công bạn.
Lòng sùng đạo và sự tử tế của những ông đa thê làm cho thành phố của họ tốt lành hơn. Điều đó khiến tôi suy nghĩ: Tại sao tôi quá khinh khỉnh với những người hiếu khách và vui vẻ như vậy? Điều gì cho phép tôi chế nhạo tôn giáo của họ? Từ lúc đó, tôi quan tâm nhiều hơn tới những lợi ích khả dĩ của niềm tin tôn giáo. Không phải một tôn giáo mà tất cả các tôn giáo. Và tôi đã ngạc nhiên với những gì tôi phát hiện.
Suốt 30 năm qua, khoa học chứng minh rằng niềm tin tôn giáo có lợi ích về y học, xã hội và tâm lý. Năm 2006, Hội Cao huyết áp Hoa kỳ (American Society of Hypertension) đã chứng minh rằng những người đi nhà thờ có huyết áp thấp hơn người không có niềm tin.
Cũng vậy, năm 2004, các nhà nghiên cứu tại ĐH California, ở Los Angeles, chứng tỏ rằng các học sinh có liên quan các hoạt động tôn giáo có thể có sức khỏe tâm thần và tình cảm tốt hơn những người khác. Trong khi đó, năm 2006, các nhà nghiên cứu tại ĐH Texas thấy rằng càng thường xuyên đi nhà thờ thì càng sống thọ.
Việc tham dự các hoạt động tôn giáo kết hợp với tỷ lệ tử vong ở người lớn theo kiểu có chắt lọc: có sự chênh lệch 7 năm về tuổi thọ giữa những người không đi nhà thờ và người đi nhà thờ hằng tuần.
Kết quả tương tự đã được tường trình trên báo American Journal of Public Health, họ đã nghiên cứu 2.000 người dân ở bang California trong 5 năm. Những người đi nhà thờ ít tử vong hơn 36% trong 50 năm so với những người không đi nhà thờ. Ngay cả những tham dự việc thờ phượng không thường xuyên – ngụ ý niềm tin không mạnh – cũng vẫn thọ hơn những người không bao giờ tham dự việc thờ phượng. Khá ấn tượng. Nhưng còn nữa.
Năm 1990, báo American Journal of Psychiatry phát hiện rằng những người có niềm tin tôn giáo bị nứt xương hông thì ít bị trầm cảm hơn, mau xuất viện hơn và có thể bước đi xa hơn so với những người không có niềm tin tôn giáo.
Không chỉ là xương hông. Các khoa học gia phát hiện rằng những người có niềm tin tôn giáo bị ung thư vú, nghẽn động mạch vành và viêm khớp cũng phục hồi mau hơn những người không có niềm tin tôn giáo, trẻ em cũng ít bị viêm màng não (meningitis). Cuộc nghiên cứu năm 2002 cho thấy những người có niềm tin tôn giáo thụ tinh trong ống nghiệm cũng tốt hơn những người không có niềm tin tôn giáo.
Cuộc nghiên cứu năm 1999 cho thấy những người tham dự các hoạt động thờ phượng hoặc cầu nguyện thì có hệ miễn nhiễm mạnh. Các lợi ích này tích lũy với sự thật rằng những người có niềm tin tôn giáo ít hút thuốc lá, ít uống rượu và ít lạm dụng ma túy hơn. Quả thật, tôn giáo có lợi cho xã hội.
Niềm tin không chỉ chữa lành cơ thể mà còn cứu chữa tinh thần. Năm 1998, báo American Journal of Public Health phát hiện rằng các bệnh nhân trầm cảm có niềm tin “tự bản chất” (sâu sắc, không a-dua) có thể phục hồi nhanh hơn 70% so với bệnh nhân có niềm tin không mạnh. Năm 2002, một cuộc nghiên cứu khác cho thấy rằng việc cầu nguyện làm giảm bất lợi ở các bệnh nhân bệnh tim.
Năm 2008, GS Andrew Clark thuộc Trường Kinh tế và TS Lelkes thuộc Trung tâm Âu châu về Chính sách và Nghiên cứu Phúc lợi Xã hội (European Centre for Social Welfare Policy and Research) đã nghiên cứu nhiều về dân Âu châu. Họ thấy rằng những người có niềm tin tôn giáo – so với những người không có niềm tin tôn giáo – ít bị stress, có thể xử lý tốt vấn đề mất việc và ly hôn, ít tự tử, tự tin hơn, có “mục đích sống” (life purpose) và sống hạnh phúc hơn.
Điều gây ngạc nhiên về cuộc nghiên cứu này là nhóm nghiên cứu không chủ ý tìm kết quả này – kết quả đó xảy ra bất ngờ. GS Clark nói: “Chúng tôi bắt đầu nghiên cứu để tìm nguyên nhân một số nước Âu châu có tiền trợ cấp thất nghiệp nhiều hơn các nước khác”. Nhưng khi tiếp tục tìm hiểu thấy có biểu hiện của đức tin. Phân tích của chúng tôi cho thấy những người có niềm tin tôn giáo ít bị tổn hại tâm lý vì thất nghiệp những người không có niềm tin tôn giáo. Những người có niềm tin tôn giáo bằng lòng với cuộc sống hơn.
Vậy tại sao tôn giáo tác dụng minh nhiên như vậy?
Một trong các cuộc nghiên cứu công bố năm 2010, do GS Chaeyoon Lim và GS Robert Putnam thuộc ĐH Harvard thực hiện, cho thấy rằng những người có niềm tin tôn giáo hạnh phúc hơn những người không có niềm tin tôn giáo. Họ thấy rằng có nhiều lợi ích về sức khỏe nhờ niềm tin tôn giáo nếu bạn thường xuyên đi nhà thờ và có những bạn tốt ở đó. Nói cách khác, đó là phần tôn giáo được tổ chức đã tạo nhiều điều tốt.
Đến nhà thờ, đền đài hoặc chùa chiền tạo cho bạn một mạng lưới xã hội rộng và có người hỗ trợ, điều này giúp bạn có cái nhìn tích cực hơn về cuộc sống và được nâng đỡ khi bạn cần. Các khoa học gia của ĐH Harvard đã ngạc nhiên vì các phát hiện của họ khiến họ cân nhắc việc thay đổi thái độ đối với tôn giáo. GS Lim nói: “Tôi không có niềm tin tôn giáo, nhưng… tôi bắt đầu suy nghĩ về việc tôi có nên đến nhà thờ hay không. Điều này hẳn sẽ làm mẹ tôi vui”. Nhưng nếu “hiệu quả giáo đoàn” (congregation effect) là một cách giải thích về sức khỏe tốt của những người đi nhà thờ thì đó không là cách giải thích duy nhất. Các cuộc nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng thực chất niềm tin cũng quan trọng.
Chẳng hạn, một cuộc nghiên cứu với 4.000 người cao tuổi của báo U.S. Journal of Gerontology cho thấy rằng những người vô thần có nhiều nguy cơ tử vong trong khoảng 6 năm so vói những người có niềm tin tôn giáo. Những người có niềm tin tôn giáo sống thọ hơn những người không có niềm tin tôn giáo dù họ không thường xuyên tham dự các giờ thờ phượng. Nghiên cứu này cho thấy có lợi ích trong niềm tin tôn giáo thuần túy – có thể tính tôn giáo tác dụng nhờ việc tạo ra ý nghĩa sâu sắc về mục đích nội tâm và sự an ủi khi đau buồn.
Thử đặt vấn đề: Cứ cho là các chứng cớ cho rằng tôn giáo tốt cho bạn, vậy làm sao những ngườivô thần có vẻ chống lại điều đó? Họ hãnh diện về sự hợp lý của họ, nhưng rất nhiều chứng cớ theo kinh nghiệm (empirical evidence) cho thấy Thiên Chúa tốt cho bạn. Đúng vậy, đó là người vô thần, không là người sùng đạo, ai hành động bất hợp lý? Không lạ gì tất cả những điều này xảy đến với nhiều sinh viên khoa di truyền học và tiến hóa, từ lâu họ vẫn nghĩ rằng niềm tin tôn giáo có thể đã được “kết nối phần cứng” (hard-wired) với đầu óc con người.
Chẳng hạn, các cuộc nghiên cứu về song sinh (nghiên cứu về sự giống nhau của các cặp song sinh được tách ra lúc sinh) cho thấy rằng tôn giáo là một đặc tính di truyền (heritable characteristic): nếu một người song sinh có niềm tin tôn giáo thì người kia có thể trở thành người có niềm tin tôn giáo, cho dù hai người không được cùng cha cùng mẹ nuôi dưỡng.
Các nhà thần kinh học đang tạo một tiến trình thú vị trong việc định vị các vùng não, mới đầu là vỏ não thùy trán (frontal cortex), vùng “đảm nhiệm” về niềm tin tôn giáo – các vùng não có vẻ được tạo để “ăn khớp” với niềm tin tôn giáo. Nghiên cứu này có tên là “thần học thần kinh” (neurotheology).
Tại sao chúng ta được “nối kết phần cứng” để có niềm tin tôn giáo? Chính xác là vì tôn giáo làm cho chúng ta hạnh phúc hơn và khỏe mạnh hơn, do đó khiến chúng ta có nhiều con cái hơn. Theo thuật ngữ thuần túy nhất của Darwin: “Trời không chỉ tốt cho bạn mà còn tốt cho gen của bạn” (God isn’t just good for you, He’s good for your genes, too).
Ngược với điều mong đợi, tất cả những điều đó nghĩa là người vô thần lập dị (eccentric), bất toàn (flawed) và không thích nghi (maladaptive), còn người sùng đạo khỏe mạnh (healthy), thích nghi (well-adjusted) và bình thường (normal). Theo thuật ngữ tiến hóa, thuyết vô thần là ngõ bí (atheism is a blind alley). Trên khắp thế giới, những người có niềm tin tôn giáo có nhiều con hơn những người không có niềm tin tôn giáo, còn các xã hội vô thần là các xã hội có tỷ lệ sinh thấp nhất.
Cộng hòa Séc (Czech Republic) là một ví dụ cũ. Nước này tuyên bố là nước vô thần nhất Âu châu, nếu không nhất thế giới. Họ còn có tỷ lệ sinh thấp là 1,28 đối với một phụ nữ, một trong các tỷ lệ thấp nhất thế giới (và rồi không người Séc nào dám tuyên bố vô thần nữa). Tuy nhiên, sự hiện hữu của thuyết vô thần là điều gì đó bất thường. Nhưng rồi những điều bất thường đó được nhận ra trong sự phát triển.
Nghĩ về loài chim cưu (dodo, thuộc họ bồ câu) hoặc loài vẹt không biết bay (flightless parrot), chúng đều bị tuyệt chủng. Đó không là điều để tôi nói mà để bạn suy nghĩ. Những gì tôi biết là việc đánh giá nghiên cứu đã thay đổi cách nghĩ của tôi về niềm tin tôn giáo. Ngày nay, tôi đi nhà thờ khá nhiều, nhất là khi tôi đi đây đó và nghiên cứu sách vở.
Chẳng hạn, có một ngày tôi thấy mình ở Cambridge – quê hương của Stephen Hawking – và có dịp tham quan những nơi đặc biệt của thành phố này. Tôi đi ngang qua phòng nghiên cứu mà Hawking làm việc, ghé vô quán rượu mà họ thông báo đã tìm ra DNA và ngắm nhìn thư viện mà Charles Darwin đã nghiên cứu. Khi đó, tôi sợ những thành tựu của con người.
Sau đó tôi đến dự lễ chiều tại một nhà nguyện. Thật đẹp đẽ, tuyệt vời và hướng thượng. Tôi cảm thấy một loại nỗi sợ khác. Hãy cười nhạo những niềm tin mà bạn thích. Đừng cho rằng khoa học không liên quan!
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Daily Mail)
—————————————-
All Rights Reserved ®
Một bác sĩ hưu trí và một học giả tin rằng việc đọc văn chương của văn hào William Shakespeare ccó thể giúp các thầy thuốc một tầm nhìn mới về mối liên hệ giữa cảm xúc và bệnh tật.
BS Kenneth Heaton nói rằng nhiều bác sĩ không liên kết các vấn đề tâm lý với các bệnh lý – và cho rằng “kịch bản” có thể giúp họ làm được điều đó.
Ông liệt kê hàng chục ví dụ mà văn hào Shakespeare đã mô tả các triệu chúng này trong các tác phẩm của ông. Ông nói: “Người ta có thể trở thành các bác sĩ giỏi hơn bằng cách nghiên cứu Shakespeare”.
Trong khi các trường y dược truyền thống không đào tạo quá xa với khoa học chẩn đoán và điều trị, vẫn có sự quan tâm nhiều trong những năm qua đối với các khóa học về nghệ thuật liên quan sức khỏe, lịch sử hoặc văn chương là một phần trong chương trình giảng dạy.
BS chuyên khoa dạ dày và ruột Heaton, ở Bắc Somerset, đã nghiên cứu Shakespeare sau khi ông nghỉ hưu, ông tin rằng viễn cảnh rộng lớn có thể làm cho dễ hiểu hơn về quan điểm và nhu cầu của bệnh nhân, nhất là về đa khoa.
Nghiên cứu mới nhất của ông, được công bố trên tạp chí y khoa Medical Humanities, tập trung vào các triệu chứng thật như choáng váng, mệt mỏi, ngất xỉu, và khó nghe, sinh ra bởi trầm cảm tiềm ẩn, đôi khi có thể khiến bác sĩ lầm lẫn là họ không có triệu chứng thể lý rõ ràng.
BS Heaton nói thêm: “Bệnh tâm lý thường xuyên ở văn hào Shakespeare nên coi là dấu hiệu không chỉ về phương pháp nhận biết thể lý (body-conscious approach), mà còn là quan trọng đối với bác sĩ”.
Các ví dụ đáng kể gồm sự mệt mỏi của Hamlet, buồn khổ vì người cha bị giết, luôn than phiền về tình trạng “mệt mỏi, chán nản, uể oải và vô vị”, và những cơn nhức đầu của Othello vì bị vợ cắm sừng.
Trong tác phẩm King Lear, khi Gloucester muốn tự tử, con trai ông là Edgar chú ý rằng “các cảm giác của ông phát triển không hoàn toàn” vì sự mỏi mệt cả tinh thần lẫn thể xác.
Trong tác phẩm Romeo và Juliet, cảm giác lạnh nhạt và nhu nhược được dùng để chuyển tải những cú sốc. Tóm lại, BS Heaton đã phát hiện ít nhất 43 cách ám chỉ các vấn đề thể lý do bị căng thẳng tâm lý trong các tác phẩm của Shakespeare – rất nhiều hơn so với các tác giả khác cùng thời.
Ông nói rằng sự miễn cưỡng của các bác sĩ ngày nay đổ lỗi của các triệu chứng thể lý cho sự rối loạn cảm xúc có thể do chẩn đoán muộn, và không cần xét nghiệm và chữa trị.
BS Heaton nói: “Shakespeare có một tầm nhìn khác thường về tâm lý con người, mở rộng tới các hệ quả cảm xúc đối với cơ thể. Một số trường y dược có nhiều cách dạy, nhưng nhiều bác sĩ vẫn có thể học điều gì đó từ văn hào Shakespeare”.
BS Paul Lazarus, nhà giáo dục về bệnh lý tại ĐH Leicester, là một trong những người khuyên nên mở rộng chương trình giảng dạy ở các trường y dược, có thể bao gồm các môn như lịch sử y học, cách miêu tả của nó trong văn chương và nghệ thuật, và thậm chí là khoa kiến trúc bệnh viện.
Ông nói: “Dù không dành cho hết mọi người, nó vẫn khả dĩ giúp các sinh viên có thể thấy các vấn đề từ viễn cảnh rộng lớn hơn”.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ BBC.co.uk)
All Rights Reserved ®
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-parent:”";
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin:0in;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:10.0pt;
font-family:”Times New Roman”;
mso-ansi-language:#0400;
mso-fareast-language:#0400;
mso-bidi-language:#0400;}
Soda ăn kiêng. Mặc dù nó có ít calo và ít đường hơn soda thường, soda ăn kiêng có thể thực sự ngăn cản bạn giảm cân. Nghiên cứu mới đây cho thấy những người ăn kiêng chọn uống loại soda ăn kiêng thì có thể lại tăng cân chứ không giảm.
Smoothies (nước ép trái cây với kem). Mặc dù chúng có thể được đóng gói với nhiều lợi ích về dinh dưỡng, sinh tố cũng có thể thực hiện vô số calo, chất béo và đường. Hãy chắc chắn rằng sinh tố của bạn là đầy với toàn bộ trái cây và rau quả và ít chất béo hoặc sữa. Bỏ qua các loại chứa nhiều bơ đậu phộng, sô cô la, hoặc xirô trái cây.
Chất làm ngọt. Nghiên cứu vẫn đang được tiến hành về sự an toàn của chất ngọt nhân tạo, nhưng một số nghiên cứu cho đến nay chứng tỏ rằng chúng thực sự có thể làm cho bạn đói hơn so với đường tự nhiên. Hãy tìm những loại thực phẩm có chứa đường tự nhiên, có ít hoặc không có đường để ăn kiêng có hiệu quả.
Dầu trộn. Mặc dù chúng chứa ít chất béo và calo hơn so với dầu trộn nhiều chất béo, dầu trộn “nhẹ” thường chứa nhiều đường hoặc xirô co nhiều fructose, được thêm vào làm tăng hương vị. Hãy ưu tiên chọn loại dầu trộn tự nhiên không có đường. Hoặc tự làm dầu trộn để bảo đảm sức khỏe, không khó làm theo công thức nấu ăn.
Thực phẩm chế biến. Chuyển sang một bữa ăn chế độ ăn đồ đông lạnh có vẻ là cách lựa chọn tốt khi cố gắng để giảm cân, nhưng các thực phẩm này thường chứa nhiều natri và đường. Hãy kiểm tra các nhãn dinh dưỡng trên các loại thực phẩm khi mua. Hãy tìm danh sách thành phần ngắn dựa trên các loại thực phẩm, chứ không phải là thành phần bạn không nhận ra.
Yaourt có mùi vị. Yogurt (sữa chua) chứa nhiều canxi và protein là loại tốt để kiểm soát chế độ ăn uống của bạn, nhưng sữa chua có hương vị có thể nạp thêm đường và calo để phá hoại chế độ ăn uống lành mạnh của bạn. Hãy dùng sữa chua đơn giản và thêm vào một muỗng cà phê mật ong cho ngọt ngào.
Khoai tây chiên nướng. Mặc dù đây là cách lựa chọn tốt đối với khoai tây chiên chứa chất béo bão hòa, khoai tây chiên nướng thường có nhiều đường, natri, và calo. Nếu bạn thích thứ gì đó giòn, hãy thử ăn rau sống hoặc bánh gạo.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ rd.com)
v\:* {behavior:url(#default#VML);}
o\:* {behavior:url(#default#VML);}
w\:* {behavior:url(#default#VML);}
.shape {behavior:url(#default#VML);}
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-parent:”";
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin:0in;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:10.0pt;
font-family:”Times New Roman”;
mso-ansi-language:#0400;
mso-fareast-language:#0400;
mso-bidi-language:#0400;}
Một nhà làm phim Israel nói rằng hai cây đinh có từ 2.000 năm trước được phát hiện ở hầm mộ của một thượng tế Do Thái (Jewish high priest), người đã giao nộp Chúa Giêsu cho người Rôm, có thể có liên quan vụ đóng đinh.
Những mẩu sắt có nhiều mấu (gnarled bits of iron) dài khoảng 3 inches (8 cm) mỗi cái, được cho các ký giả ở Jerusalem thấy hôm thứ Ba (12/4/2011) trong một phim tài liệu truyền hình để kiểm tra vấn đề cho rằng những cây đinh này có thể đã đóng Chúa Giêsu.
Từ ngày 15/5, những cây đinh này sẽ được truyền đi từ ngày thứ Tư ở Hoa kỳ, Canada, và Israel.
Hai chiếc đinh lần đầu tiên được phát hiện tại Jerusalem từ 20 năm trước khi các nhà khảo cổ phát hiện một ngôi mộ gia đình được coi là của Caiaphas, vị thượng tế đã giao nộp Chúa Giêsu cho người Rôma đóng đinh. Một chiếc đinh được tìm thấy trong một trong 12 chiếc quan tài bằng đá vôi (limestone coffins) trong hầm mộ, còn chiếc kia thấy nằm trên nền mộ.
Nhà làm phim tài liệu Simcha Jacobovici người Israel gọi đó là “Nhà khảo cổ khỏa thân” (The Naked Archaeologist), ông nói: “Hai chiếc đinh sắt này được tìm thấy trong ngôi mộ đó”. Phim này đã trình chiếu trên kênh Lịch sử (The History Channel). Ông nói với các ký giả: “Ai đó đã tới hầm mộ với chiếc đinh ở trong xương và không ai kể lại điều đó”.
Các cây đinh bị cong một đầu và cả hai đều phù hợp (consistent with) việc đóng đinh vào tay. Jacobovici nói rằng vì Caiaphas kết hợp với việc đóng đinh – của Chúa Giêsu – người ta cho rằng những chiếc đinh đó đã được dùng. Nếu những chiếc đinh này được phát hiện ở bất kỳ ngôi mộ nào khác thì chúng tôi đã không có mặt ở đây hôm nay”.
Việc phát hiện những chiếc đinh này được tường trình trong bản báo cáo khảo cổ ngay lúc đầu, nhưng sau đó không lâu họ quên chụp hình. Khi tìm những chiếc đinh còn thất lạc, Jacobovici đã đến trường ĐH Tel Aviv và xác định niên đại, ông tin đó là những chiếc đinh đó được tìm thấy ở mộ của Caiaphas.
Lý thuyết cho rằng những chiếc đinh này được dùng trong việc đóng đinh, dựa vào 2 giả thuyết, Jacobovici nói: “Có thể những chiếc đinh này ở mộ của Caiaphas, và Caiaphas kết hợp với chỉ một vụ đóng đinh – đó là vụ đóng đinh Chúa Giêsu. Nếu người ta chấp nhận những chiếc đinh này ở ngôi mộ đó, giả sử Caiaphas chỉ dùng để đóng dinh Chúa Giêsu, thì phải là những chiếc đinh này”.
Được hỏi tại sao người bắt Chúa Giêsu phải chết, theo các phúc âm, lại chôn những chiếc đinh này với kẻ thù, Jacobovici cho rằng có thể Caiaphas bị ray rứt vì quyết định của mình (been racked with guilt over his decision).
Một giả thuyết khác có trong phim tài liệu cho rằng có thể ông ta là người bí mật theo Chúa Giêsu (a secret follower of Jesus) đã không nghĩ giao Chúa Giêsu cho người Rôma sẽ khiến Ngài phải chết.
Lịch sử cho thấy 10.000 người bị người Rôma đóng đinh tới nay, chỉ có một ít chứng cớ khảo cổ ủng hộ việc này: Một miếng xương gót chân hóa thạch bị đinh sắt đâm đã được phát hiện ở Jerusalem năm 1968. Gabi Barkai, GS khoa khảo cổ tại ĐH Bar Ilan thuộc ĐH Tel Aviv, người có kinh nghiệm 40 năm về khai quật các ngôi mộ, xác nhận những chiếc đinh này có từ thế kỷ I, nhưng ông nói không thể biết ngày tháng chính xác hơn.
Ông nói: “Những chiếc đinh này là những vật hiếm thấy ở các ngôi mộ từ thời Đền thờ Jerusalem thứ hai”. Có vài giả thuyết cho rằng tại sao chúng có thể được đặt trong mộ, một giả thuyết là những chiếc đinh dùng để đóng đinh được coi là “bùa hộ mạng mạnh” (powerful amulets) cho cuộc sống ngày sau.
Ông cho biết thêm: “Không có chứng cớ nào về những chiếc đinh này ở mộ của Caiaphas”. Được hỏi ông có tin những chiếc đinh đó được dùng để đóng đinh Chúa Giêsu hay không thì ông cẩn thận nói: “Điều đó có thể” (It’s a possibility).
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Discovery News)
Làm thế nào để lấp đầy cuộc sống bằng những tia nắng ấm áp lấp lánh hạnh phúc và an vui? Có thể những điều dưới đây sẽ rất hữu ích cho bạn.
SỨC KHỎE:
1. Uống nhiều nước. Mỗi ngày khoảng 2 lít.
2. Ăn sáng giống như vua, ăn trưa giống như ông hoàng, và ăn tối giống như kẻ ăn xin.
3. Ăn nhiều thực phẩm mọc trên cây và ăn ít thực phẩm được chế tạo thành cây.
4. Sống với 3 N – Năng lực, Nhiệt thành và Nhân ái.
5. Dành thời gian để cầu nguyện.
6. Thư giãn nhiều hơn, giảm căng thẳng càng nhiều càng tốt.
7. Đọc nhiều sách hơn năm ngoái, vì kiến thức rất cần cho cuộc sống.
8. Mỗi ngày ngồi tĩnh lặng ít nhất 10 phút.
9. Mỗi ngày ngủ 8 tiếng, năng vận động và giữ vệ sinh (riêng, chung).
10. Mỗi ngày đi bộ 10–30 phút, mỉm cười trong khi bước đi, đồng thời tích cực bảo vệ môi trường.
NHÂN CÁCH:
11. Đừng so sánh cuộc đời bạn với người khác. Bạn không biết cuộc hành trình của họ thế nào đâu.
12. Đừng có những tư tưởng tiêu cực hoặc những thứ mà bạn không thể làm chủ. Thay vào đó, hãy đầu tư năng lực của bạn vào khoảnh khắc hiện tại tích cực.
13. Đừng làm quá sức. Hãy giữ giới hạn của mình.
14. Đừng quá coi trọng bản thân, không ai để ý đâu! Hãy cứ là chính mình, đừng là “cái bóng” của người khác.
15. Đừng phí năng lực quý báu vào chuyện ngồi lê đôi mách.
16. Hãy mơ nhiều hơn khi bạn còn đang thức. Ước mơ giúp bạn nỗ lực vươn lên.
17. Ghen tỵ và đố kỵ là lãng phí thời gian, tức giận là tự làm khổ mình. Bạn có những gì mình cần rồi.
18. Hãy quên đi những chuyện quá khứ. Đừng nhắc lại để người khác nhớ lại những lỗi lầm của họ trong quá khứ, nếu không sẽ làm hỏng hạnh phúc hiện tại của bạn.
19. Cuộc sống quá ngắn để lãng phí thời gian vào việc ghen ghét ai đó, cũng đừng đâm thọc hoặc xía mũi vào chuyện của người khác.
20. Hãy làm hòa với quá khứ của bạn để tránh nuối tiếc và không làm tổn thương hiện tại.
21. Không ai chịu trách nhiệm về hạnh phúc của bạn ngoài bạn.
22. Hãy nhận thức rằng cuộc đời là một trường học, và bạn ở đây để học. Các vấn đề chỉ là một phần của bản lý lịch. Nó xuất hiện rồi phai mờ đi giống như lớp toán, nhưng các bài học bạn học được sẽ kéo dài suốt đời.
23. Hãy mỉm cười nhiều hơn, cảm thông hơn và biết điều hơn.
24. Bạn không buộc phải thắng mọi điểm đâu. Hãy đồng ý với việc không đồng ý.
XÃ HỘI:
25. Hãy gọi điệncho gia đình bạn thường xuyên hơn.
26. Mỗi ngày hãy mang lại điều gì tốt cho người khác – dù đó là điều nhỏ.
27. Hãy tha thứ cho mọi người về mọi sự. Tha thứ sẽ tạo nên hòa bình.
28. Hãy dành thời gian cho những trẻ em và người cao niên.
29. Mỗi ngày cố gắng làm cho ít nhất 3 người mỉm cười.
30. Điều người khác nghĩ về bạn không phải là việc của bạn. Đừng bận tâm!
31. Việc làm của bạn sẽ không săn sóc bạn khi bạn đau ốm. Người khác mới làm việc đó. Hãy liên lạc với nhau luôn.
ĐỜI SỐNG:
32. Hãy giữ lương tâm tốt và hãy làm điều đúng đắn.
33. Loại bỏ bất cứ thứ gì không ích lợi, không đẹp hoặc không vui.
34. Thượng đế chữa lành mọi sự. Điều gì đến sẽ đến (What will be will be, Que sera sera).
35. Sẽ có cách thay đổi dù trong hoàn cảnh tốt hay xấu.
36. Dù cảm thấy thế nào thì bạn cũng cứ đứng dậy, thay y phục và xuất hiện.
37. Điều tốt nhất đang đến. Hãy tin tưởng và chờ đợi.
38. Khi bạn còn sống và thức dậy buổi sáng, hãy cảm ơn Trời về điều đó.
39. Thâm tâm bạn luôn hạnh phúc, vậy hãy sống và thể hiện đi!
ĐIỀU CUỐI CÙNG nhưng không phải là nhỏ nhất:
40. Xin vui lòng chuyển “văn bản” này đến tất cả những người mà bạn đang quan tâm.
Và nên tâm niệm lời của Pythagore: “Đừng thấy bóng mình to mà tưởng mình vĩ đại”.
TRẦM THIÊN THU
Thời tiết lạnh, nếu không giữ ấm cơ thể, bạn dễ bị cảm. Ngược lại, trời nắng nóng, ra nắng lâu sẽ bị cảm nắng. Có thể chữa khhỏ các bệnh vặt này bằng thảo dược. Ngoài ra, rau cỏ quanh nhà còn trị được một số bệnh thông thường khác.
Gừng: Có thể chữ trị hay dự phòng cảm lạnh. Hãy nhấm dần một miếng gừng tươi hoặc uống một cốc nước sắc gừng và chút đường. Thêm vài lát gừng cho vào ly trà nóng sẽ giúp cơ thể ấm lên.
Hành lá: Nấu một bát cháo hoa (cháo trắng), khi cháo đang sôi, cho vào cháo một lòng đỏ trứng gà. Sau đó, cho vào cháo mắm hành lá thái nhỏ, nêm vừa miệng. Ăn nóng rồi đắp chăn kín cho xuất mồ hôi.
Tía tô: Sử dụng giống như hành lá. Lá tía tô còn giúp tiêu hoá trong trường hợp đầy bụng, ăn không tiêu.
Lá lốt: Có tác dụng chữa mụn cơm hiệu quả. Lấy lá lốt ngâm nước gạo, sau đó hơ nóng, đắp vào mụn cơm. Khi lá nguội, thay lá khác, làm nhiều lần sẽ khỏi.
Lá sả: Dùng thân, rễ, lá, chữa cảm sốt, lá tươi nấu nước xông làm toát mồ hôi. Để giải nhiệt dùng 10g lá nấu nước uống. Củ sả giúp tiêu hoá tốt, thông tiểu.
Bạc hà: Dùng để nấu nước uống. Hoặc lấy 100g lá bạc hà kết hợp cùng 100g lá kinh giới xay ép lấy dịch cốt, mỗi lần uống 2 thìa càphê, giúp giải cảm.
Cây quất: Có khá nhiều tác dụng: chữa bệnh đau dạ dày, đau bụng, buốt các ngón tay chân, bế kinh, huyết áp cao… Nấc là hiện tượng bạn thường gặp. Hãy thử dùng 5 quả quất, 5 cái tai hồng dùng làm thuốc sắc uống trong ngày.
Rau sam: Nấu canh hoặc dùng 100g cây tươi, giã nát với chút muối, vắt nước uống, có thể thêm đường. Dùng 3-5 ngày liền có thể chữa tiểu ra máu.
Cây lưỡi hổ: Lấy cành già, rửa sạch, giã nát, đắp lên vùng cổ bị lang ben. Tránh đắp rộng làm lây lan sang vùng khác.
Mắc cỡ: Còn gọi là cây xấu hổ, trinh nữ, dùng 15g khô sắc uống trước khi ngủ có thể trị mất ngủ, suy nhược thần kinh.
VIỄN ĐÔNG (st)
Quế không chỉ là gia vị tạo sức hấp dẫn cho món ăn mà còn có nhiều lợi ích với sức khoẻ. Các lợi ích sau của quế sẽ khiến bạn muốn bổ sung ngay vào chế độ ăn hàng ngày của gia đình.
1. Giảm cholesterol. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chỉ cần dùng nửa thìa quế trong bữa ăn hàng ngày có thể giúp giảm lượng cholesterol. Quế cũng giúp giảm lượng LDL (cholesterol xấu) và triglycerids (acid béo trong máu).
2. Giảm lượng đường máu và trị bệnh tiểu đường týp 2. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng dùng nửa thìa quế mỗi ngày giúp cải thiện mức độ nhạy cảm insulin và điều chỉnh lượng glucose trong máu. Khi mức insulin được cải thiện, cân nặng và bệnh tim mạch sẽ được kiểm soát.
3. Bệnh tim mạch. Quế giúp củng cố sức khỏe hệ tim mạch vì thế tránh cho cơ thể khỏi các rắc rối liên quan tới tim mạch. Cho 1 lượng quế nhỏ khi chế biến đồ ăn rất tốt cho những người mắc bệnh động mạch vành và bệnh cao huyết áp.
4. Chống ung thư. Nghiên cứu được công bố bởi Bộ Nông Nghiệp Mỹ cho thấy quế có tác dụng khống chế sự sinh sôi của các tế bào ung thư bạch cầu. Ngoài ra, chất xơ và canxi trong quế giúp loại bỏ các dịch mật thừa, ngăn ngừa những ảnh hưởng không tốt với tế bào ruột, từ đó giảm nguy cơ ung thư ruột kết.
5. Ngừa sâu răng và sạch miệng. Quế từ lâu đã được biết đến là một trong những thảo dược có tác dụng điều trị sâu răng và hơi thở có mùi. Chỉ cần nhai một mẩu quế nhỏ hay súc miệng với nước quế cũng giúp sạch miệng và mang lại hơi thở thơm tho.
6. Điều trị các vấn đề về hô hấp. Quế rất hữu ích với người mắc bệnh cảm. Những người bị cảm lạnh, ho dai dẳng, viêm xoang nên dùng ăn hỗn hợp 1 thìa mật ong trộn với 1/4 thìa quế hằng ngày trong 3 ngày liên tục. Quế cũng giúp điều trị cảm cúm, đau họng và chứng sung huyết.
7. Bổ não. Quế kích thích hoạt động của não như một loại thuốc bổ, giúp loại trừ sự căng thẳng thần kinh cũng như suy giảm trí nhớ. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ngửi quế làm tăng nhận thức, trí nhớ hiệu quả, tăng khả năng tập trung và nhạy bén.
8. Giảm các bệnh truyền nhiễm. Với khả năng chống khuẩn, chống nấm, chống vi rút, chống các vật ký sinh và là chất khử trùng nên quế rất hữu hiệu trong việc chống viêm nhiễm cả bên trong và ngoài. Quế được xem là rất hiệu quả trong việc chống lại bệnh nấm âm đạo, nấm vòm họng. ngừa bệnh viêm nhiễm vùng âm đạo, nhiễm trùng vòm họng, loét dạ dày và chấy trên đầu.
9. Dễ chịu trong chu kỳ kinh nguyệt. Quế rất tốt cho phụ nữ, giúp giảm thiểu chứng chuột rút và những khó chịu khác trong thời gian “nguyệt san”.
10. Tránh thai. Quế được xem là một biện pháp tránh thai tự nhiên. Thường xuyên dùng quế sau sinh con sẽ giúp làm chậm kinh vì thế tránh được mang thai trong thời gian này.
11. Lợi về sữa Mẹ. Quế giúp tăng tiết lượng sữa mẹ nên rất hữu ích với những bà mẹ ít sữa.
12. Giảm đau do chứng viêm khớp. Trong quế có chứa nhiều hợp chất chống viêm có tác dụng giảm đau và viêm do bệnh thấp khớp gây ra. Nghiên cứu của trường ĐH Copenhagen cho thấy nếu dùng nửa thìa bột quế và 1 thìa mật ong mỗi sáng sẽ giúp giảm đau khớp đáng kể (sau 1 tuần sử dụng) và có thể đi lại không đau (sau 1 tháng sử dụng).
13. Tốt cho hệ tuần hoàn. Cho quế vào món ăn hàng ngày giúp tiêu hoá tốt. Quế rất hiệu quả với chứng khó tiêu, buồn nôn, rối loạn dạ dày, tiêu chảy và chứng đầy hơi. Quế có tác dụng giảm bớt lượng gas trong dạ dày và ruột vì thế rất tốt cho tiêu hoá.
14. Giảm viêm đường tiết niệu. Những người ăn quế đều thì nguy cơ bị viêm nhiễm đường tiết niệu rất thấp. Quế giúp lợi tiểu tự nhiên và hỗ trợ bài tiết nước tiểu.
15. Chỗng nghẽn mạch. Hợp chất Cinnamaldehyde trong quế rất hiệu quả trong việc ngăn ngừa máu đóng và vón cục vì thế rất tốt với những ngườI bị bệnh tim mạch.
16. Bảo vệ thực phẩm. Khi cho 1 lượng quế nhỏ vào chế biến thực phẩm giúp ngăn ngừa sự phát triển và sinh sôi của vi khuẩn vì thế giúp bảo vệ đồ ăn tươi ngon hơn.
17. Giảm đau đầu và chứng đau nửa đầu. Đau đầu do đi nhiều ngoài trời gió lạnh sẽ được điều trị bằng việc đắp hỗn hợp mỏng bột quế trộn với nước lên vùng trán và thái dương.
18. Ngừa mụn và mụn đầu đen. Quế giúp loại bỏ các tạp chất trong máu vì thế rất hữu hiệu trong việc giảm mụn. Dùng hỗn hợp bột quế và vài giọt nước cốt chanh đắp lên những vùng bị mụn và mụn đầu đen sẽ có hiệu quả.
19. Tăng cường lưu thông máu. Quế giúp làm sạch thành mạch máu và tăng cường lưu thông máu. Việc lưu thông máu dễ dàng sẽ cải thiện sức khoẻ do đảm bảo cung cấp đủ ôxy cho các tế bào trong cơ thể, tăng cường trao đổi chất, giảm nguy cơ mắc bệnh tim nếu dùng quế hàng ngày.
20. Tăng cường sự rắn chắc của các mô. Quế giúp tăng sự chắc khoẻ và tính đàn hồI, co giãn của các mô trong cơ thể.
21. Giảm đau cơ và đau khớp. Những người ăn quế đều hàng ngày thấy giảm đau các cơ và khớp, tăng cường sự dẻo dai của các cơ và khớp xương.
22. Cải thiện hệ miễn dịch. Hỗn hợp mật ong và quế rất tốt giúp tăng cường hệ miễn dịch, giảm mệt mỏi, làm chậm quá trình lão hoá và kéo dài tuổi thọ.
23. Giảm ngứa. Hỗn hợp mật ong và quế giúp giảm ngứa do côn trùng đốt.
24. Quế giàu magan, chất xơ, chất sắt và canxi.
25. Làm lành vết thương. Quế giúp ngừa máu chảy vì thế có khả năng làm lành vết thương nhanh.
Trầm Thiên Thu (sưu tầm)
RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC (RLLC) LÀ G Ì?
RLLC (Bipolar Disorder) là chứng bệnh làm thay đổi tính khí từ rất hăng hái tới trầm cảm nặng, còn gọi là rối loạn trầm cảm cuồng loạn (manic-depressive disorder). Cách này có thể gây ra cách cư xử cực đoan đến nỗi không thể làm đúng chức năng ở chỗ làm, trong gia đình và ngoài xã hội, hoặc trong quan hệ với người khác. Một số người bị RLLC có thể tự tử.
Bị RLLC có thể khiến bạn cảm thấy đơn độc và vô vọng. Nói chuyện với người đã bị RLLC có thể giúp bạn nhận biết mình vẫn còn hy vọng có cuộc sống tốt đẹp hơn. Liệu pháp khả dĩ giúp bạn trở lại bình thường. C ác th ành vi ên gia đ ình th ư ờng c ảm th ấy kh ông ai gi úp đ ỡ khi người thân bị RLLC. Hãy nhờ tư vấn. Liệu pháp cũng khả dĩ giúp đứa con có cha hoặc mẹ bị RLLC.
ĐIỀU GÌ GÂY RA RLLC?
Người ta chưa xác định được nguyên nhân. Có thể do môi trường sống hoặc hoàn cảnh gia đình, cũng có thể do mất cân bằng hoá chất trong não.
TRIỆU CHỨNG THẾ NÀO?
Triệu chứng tùy vào mức thay đổi tính khí. Ở giai đoạn cuồng nhiệt, có thể bạn cảm thấy rất hạnh phúc và hăng hái, cũng có thể cảm thấy không cần ngủ nhiều hoặc rất tự tin. Một số người tiêu xài nhiều tiền hoặc thích mạo hiểm những hoạt động nguy hiểm.
Sau giai đoạn cuồng nhiệt, bạn có thể trở lại bình thường, hoặc tính khí có thể mơ hồ với cảm giác buồn bã, trầm cảm và vô vọng. Khi bị trầm cảm, có thể bạn khó suy nghĩ, khó quyết định, khó nhớ, không hứng thú với điều mà trước đây bạn rất thích, thậm chí có thể nghĩ đến việc tự tử.
RLLC có thể nhẹ hoặc nặng, xảy ra chậm trong vài ngày hoặc vài tuần, cũng có thể xảy ra nhanh trong vài phút hoặc vài giờ. Tính khí thất thường có thể kéo dài vài giờ hoặc vài tháng.
CHẨN ĐOÁN THẾ NÀO?
Khó chẩn đoán. Bác sĩ hoặc nhà trị liệu sẽ hỏi chi tiết các triệu chứng và thời gian. Để chẩn đoán RLLC loại I, phải có ít nhất 3 triệu chứng cuồng loạn và kéo dài 1 tuần. Các triệu chứng có thể là ngủ ít, nói nhiều, cư xử kỳ lạ. Với RLLC loại II, giai đoạn cuồng loạn có thể ít nặng hơn và ngắn hơn. Có thể xét nghiệm nước tiều và máu để chẩn đoán.
ĐIỀU TRỊ BAO LÂU?
Càng chẩn đoán RLLC sớm càng dễ điều trị, cơ may trở lại bình thường mau hơn. Một trong các bước quan trọng để xử lý giai đoạn cuồng nhiệt là nhận ra các triệu chứng để điều trị sớm bằng thuốc hiệu quả. Có nhiều loại thuốc. Cần dùng thử vài thứ thuốc trước khi phát hiện cách kết hợp thuốc hiệu quả nhất.
Đa số bệnh nhân RLLC cần uống loại thuốc làm ổn định tính khí hàng ngày. Thuốc chống tâm thần có thể giúp kiểm soát giai đoạn cuồng loạn. Thuốc chống trầm cảm có thể cẩn thận dùng trong giai đoạn trầm cảm, vì trầm cảm làm một số người chuyển sang giai đoạn cuồng loạn. Nên theo dõi bệnh nhân kỹ lưỡng.
AI BỊ RLLC?
H ơn 3 triệu người Mỹ bị RLLC, chiếm khoảng 1% dân số. Các nước khác cũng có tỷ lệ tương tự. RLLC xảy ra đồng đều ở cả nam lẫn nữ, thường ở độ tuổi 15-24.
TRẦM THIỄN THU (chuyển ngữ từ health.msn.com)
Các phát hiện này tạo niềm hy vọng mới cho những người đang đối mặt với chứng trầm cảm.
Làm giảm “nỗi buồn sản phụ” (Baby Blues).
Khoảng 13% số phụ nữ (PN) mới sinh con bị chứng trầm cảm hậu sản (postpartum depression), nhưng nhiều người miễn cưỡng dùng thuốc. Một nghiên cứu mới về các PN có nguy cơ cao bị rối loạn nguy hiểm cho thấy rằng cũng nên nhờ tư vấn tâm lý. Một nửa số PN này nhờ tư vấn qua điện thoại. Kết quả là họ có thể giảm ½ trầm cảm so với các PN cứ chịu đựng một mình.
Nối kết tâm lý và tình cảm.
Ít nhất có 1/5 số người phải phẫu thuật tim bị trầm cảm, điều này làm tăng nguy cơ bệnh tim. Nhưng liệu pháp cư xử nhận thức (CBT – cognitive behavioral therapy), kiểu liệu pháp “nói”, có thể hữu ích. Trong một nghiên cứu mới đây, 71% số bệnh nhân áp dụng liệu pháp CBT đều hết trầm cảm sau 3 tháng. Ngược lại, chỉ 1/3 số bệnh nhân đó thấy trầm cảm hơn.
Cân nhắc cẩn trọng.
Xem lại 117 cuộc nghiên cứu, liên quan 25.000 bệnh nhân bị trầm cảm nặng, người ta kết luận rằng đừng cho rằng thuốc chống trầm cảm mới nhất thì hiệu quả hơn các thuốc cũ. Thuốc Zoloft (có từ năm 1992) và Lexapro (có từ năm 2002) vẫn khả dĩ cải thiện bệnh trạng hơn các loại thuốc chống trầm cảm khác. Nếu bạn dùng thuốc nào thấy hiệu quả thì không nên bỏ, nhưng cũng nên cân nhắc xem có nên dùng Zoloft hoặc Lexapro hay không.
Đừng tuyệt vọng!
Khoảng 20% số người bị trầm cảm không giảm nhờ thuốc hoặc liệu pháp tâm lý. Nhưng một liệu pháp mới kích thích nhờ điện cực cắm vào não giúp cải thiện 22% triệu chứng sau 8 tuần, so với 3% ở những người áp dụng liệu pháp giả. Nhà nghiên cứu Emad N. Eskandar nói: “Những người này đã bị trầm cảm lâu, không gì khác khả dĩ cải thiện nhiều”.
TRẦM THIÊN THU (Reader’s Digest 8/2009)
Các khoa học gia thuộc ĐH California ở San Diego đã tạo ra các phân tử nano khả dĩ triệt tiêu các khối u tiềm ẩn.
Nếu được chấp thuận để dùng trong y khoa, kỹ thuật mới này có thể cứu sống thêm nhiều bệnh nhân ung thư (UT) nhờ việc chẩn đoán và điều trị sớm. Theo lý thuyết, nó có thể giảm thiểu các phản ứng phụ độc hại do hóa trị. Michael Sailor, khoa học gia thuộc ĐH California, người đã nói chi tiết trên số báo Nature Materials mới đây, nói: “Thuận lợi là nếu cấu trúc nano định vị gần khối u, nó cho bạn thấy khối u hoặc xử lý khối u đó”.
Mặt hạn chế đối với đa số các kỹ thuật phát hiện và điều trị UT là tính độc hại. Phóng xạ cadmium tích tụ bên trong các khối u và phát sáng mà máy MRI (cộng hưởng từ) có thể phát hiện và triệt tiêu nhiều cơ quan bên trong. Các thuốc hóa trị như abraxane triệt tiêu các tế bào UT nhưng cũng giết chết nhiều tế bào khỏe mạnh.
Các khoa học gia bắt đầu với silicon wafer, giống như công nghệ bán dẫn, và phân chúng thành chững phần cực tiểu khi dùng siêu âm. Để điều trị UT, các phân tử thấm thuốc sẽ hoạt động tốt. Rồi họ bọc các phân tử bằng một lớp dextrose mỏng, một dạng bọc đường. Theo TS Sailor, chúng như những chiếc bánh bao (pastries) triệt UT.
Khi các phân tử độc hại vào mạch máu, chúng đi khắp cơ thể. Các khối u cần máu để phát triển nhanh, nhưng chúng không khéo dò tìm. Các mạch máu quanh khối u thì mỏng và nhiều lỗ. Các lỗ này nhỏ khỏang 100 nanometers (rất rất nhỏ), chỉ đủ để các phân tử cực tiểu đó chui vào và kẹt bên trong khối u.
Các phân tử, được tạo bằng silicon không độc hại thay cho hóa chất cadmium độc hại, sẽ phát triển dưới tia cực tím. Sau khỏang 1 giờ đi khắp cơ thể và tự định vị gần khối u (được phát hiện nhờ máy MRI) thì bác sĩ có thể nhận biết.
Khi máu quanh các phân tử nhân tạo này, nó xử lý lớp bọc đường và phóng ra thuốc chống UT, triệt tiêu các tế bào UT mà không làm hại các tế bào khỏe mạnh như hóa trị. Khi các phân tử nano phóng ra thuốc, cơ thể tiếp tục làm vỡ các phân tử. Trong vòng 24 giờ, các phân tử nano ra khỏi mạch máu, và trong khỏang vài tuần, chúng hòan toàn bài tiết ra khỏi cơ thể.
Sailor và các cộng sự đã dùng các phân tử nano để chẩn đoán UT da ở chuột, họ chưa dùng để điều trị UT, nhưng liệu pháp này đang hoạt động tốt. Philippe Fauchet, thuộc ĐH Rochester ở New York, đã phát triển các phân tử nano silicon để phát hiện các khói u. Ông không tạo các các phân tử nano nhỏ mà tạo các phân tử nano lớn hơn. Ông nói: “Thuận lợi của việc dùng silicon là nó có tính tương thích sinh học (biocompatable). Các phân tử này xử lý và bài tiết qua niệu quản trong vòng 30 ngày. Không tích tụ dạng kim loại nặng như cadmium”.
Tuy nhiên, các phân tử nano silicon được tạo ra nhưng còn phải chờ sự chấp thuận của Cơ quan Thực Dược phẩm Hoa kỳ (FDA) thì mới được áp dụng để diều trị ở người. TS Sailor nói rằng việc điều trị thử nghiệm sớm nhất cũng phải 6 tháng nữa, không thì phải 2 năm nữa.
TRẦM THIÊN THU (Discovery News)
Bắt chước mù quáng gây sát nhân và tự sát?
Ngày 30/3/2009, tại Santa Clara (California), một người đàn ông đã bắn chết 5 người, kể cả 3 đứa con, rồi tự sát. Ngày 4/3/2009, một tay súng nã đạn vào một trung tâm nhập cư ở Binghamton (New York), làm 13 người thiệt mạng rồi y tự sát. Ngày 20/4/2009, các nhân viên khách sạn Sheraton ở Maryland phát hiện thi thể hai vợ chồng và hai con gái, các nạn nhân là một vụ sát nhân và tự sát khác.
Chỉ có các tội phạm sát nhân tự sát mới đây ở Mỹ. Từ 10/3/2009, có ít nhất 43 người bị giết trong các vụ sát nhân tự sát, không biết tại sao các vụ này xảy ra liên tiếp mau chóng như vậy. Cũng không rõ những vụ vừa qua có phải là “leo thang” tội phạm sát nhân tự sát hay không. Nghiên cứu cho thấy các yếu tố từ thời điểm trong năm (tự sát nhiều vào mùa xuân) đến vấn đề tài chính có thể ảnh hưởng tỷ lệ sát nhân và tự sát. Trong các vụ mới đây, động lực rõ ràng của những kẻ sát nhân là ghen tuông và thất vọng về tài chính.
Nhưng Steven Stack, GS khoa tâm thần và tội phạm tại ĐH Quốc gia Wayne, đưa ra cách giải thích khác: Hệ quả bắt chước mù quáng (copycat effect). Lý thuyết về việc bắt chước mù quáng lần đầu tiên được nhà tội phạm học khái quát năm 1912, sau khi một tờ báo ở London đưa tin về tội ác dã man của Jack the Ripper hồi cuối thập niên 1800, dẫn đến làn sóng hiếp dâm và sát nhân do bắt chước mù quáng ở khắp Anh quốc. Từ đó, có nhiều cuộc nghiên cứu về động thái này – nhất là tự sát bắt chước mù quáng, có vẻ rất phổ biến – nhưng người ta chưa có kết luận.
Năm 2005, xem lại 105 cuộc nghiên cứu đã được công bố, Stack thấy có khỏang 40% các cuộc nghiên cứu đề nghị kết hợp giữa việc đưa tin về các vụ sát nhân trên các thông tin đại chúng (nhất là vụ tự sát của những người nổi tiếng) và tỷ lệ tự sát ở nơi công cộng. Ông cũng thấy có hệ lụy phản ứng: Càng thấy nhiều vụ tự sát, càng nhiều cái chết bắt chước theo.
Nhưng theo nghiên cứu của Stack, 60% các cuộc nghiên cứu trước đây không thấy mối liên hệ như vậy. Ông giải thích rằng các cuộc nghiên cứu có thể tìm thấy mối liên hệ là các cuộc nghiên cứu muốn nói đến cái chết của người nổi tiếng hoặc tin tức ồ ạt trên các phương tiện truyền thông – ngạc nhiên là các yếu tố có chiều hướng “đồng diễn”. Stack nói: “Các câu chuyện rất có thể ảnh hưởng là các câu chuyện của các nhân vật chính trị và nghệ thuật. Các vụ tự tử này có thể gây hệ lụy bắt chước mù quáng gấp 5,2 lần so với các vụ tự tử của dân thường”. Chẳng hạn, trong tháng sau cái chết của Marilyn Monroe, tỷ lệ tự sát ở Mỹ tăng khỏang 12%.
Stack cũng hướng dẫn một cuộc nghiên cứu xem động thái sát nhân tự sát (khác với chỉ sát nhân) có liên quan tội phạm bắt chước mù quáng hay không. Nghiên cứu này, công bố 20 năm trước, đã phân tích ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đưa tin các vụ giết người hàng loạt và sát nhân tự sát trong những năm 1968 tới 1980. Nghiên cứu thấy rằng không có mối liên hệ về mức tăng tỷ lệ giết hại thân nhân, nhưng có mức tăng về sát nhân sau các vụ được công bố rộng rãi. Ông nói: “Có mức tăng đáng kể về tỷ lệ sát nhân hàng tháng trong nước. Đó là mối liên quan khá quan trong và không lệ thuộc biến số kiểm soát chủ yếu như tỷ lệ thất nghiệp.
Hiện nay, có vẻ như lý do phía sau các vụ sát nhân tự sát mới đây vẫn chưa rõ, nhưng dù do kinh tế, mùa, có sẵn súng hoặc việc bắt chước mù quáng, nhiệm vụ không đơn giản là tìm ra cách ngăn chặn các vụ sát nhân tự sát.
TRẦM THIÊN THU (Theo TIME)

Recent Comments