Subscribe RSS

Archive for the Category "Tôn Giáo"

Gió - Lửa - Nước May 17

(Chúa Nhật Hiện Xuống, năm B)

Gió, Lửa và Nước “bộ ba độc đáo” gồm những thứ mềm nhất và bình thường nhất, nhưng đó lại là những thứ mạnh nhất và quan yếu nhất trong cuộc sống, ba thứ ấy mạnh đến nỗi không gì có thể cưỡng lại.

GIÓ có thể tiếp nhận, thổi bay và chuyển hóa mọi thứ, dù những thứ xấu xa và dơ bẩn nhất. Gió luôn tự hào, không buồn khổ hay tủi nhục. Gió có dung tích rộng lớn, gọi là Đại Phong, có khả năng di động và chuyển hóa phi thường.

LỬA có thể tiếp nhận và đốt cháy mọi thứ, dù những cái xấu xa và dơ bẩn nhất. Lửa không vì thế mà cảm thấy buồn tủi, chán chường, hoặc ghen ghét. Lửa có dung tích rộng lớn, gọi là Đại Hỏa, có khả năng thiêu đốt và chuyển hóa tất cả mọi thứ.

NƯỚC có thể tiếp nhận và rửa sạch mọi thứ, dù những cái xấu xa và dơ bẩn nhất, người ta có đổ xuống nước mọi thứ nhưng nước vẫn bình thản, không lệ thuộc hoặc cảm thấy oán hờn, tủi nhục. Nước cũng có dung tích rộng lớn, gọi là Đại Thủy, có khả năng di động và chuyển hóa kỳ diệu.

Gió, Lửa và Nước luôn dạy chúng ta nhiều bài học sống: Nếu tâm chúng ta có khả năng chuyển hóa và di động, chúng ta cũng có thể tiếp nhận và chuyển hóa tất cả mọi thứ đau khổ mà người khác trút lên chúng ta, và những thứ ấy không thể gây xáo trộn tâm hồn chúng ta, không thể tước mất sự bình an và hạnh phúc trong tâm hồn chúng ta: “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu” (Rm 8:39).

Nước liên quan Phép Rửa, cũng gọi là Bí tích Thánh tẩy: “Khi Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Ngài thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Ngài” (Mt 3:16). Như vậy, Nước cũng liên quan Chúa Thánh Thần.

Những gì đơn giản nhất thường bị coi thường. Chúa Thánh Thần cũng thường không được chúng ta “nhắc tới”, dù Ngài không ngừng hoạt động trong cuộc đời chúng ta. Hãy thành tâm thân thưa với Chúa Thánh Thần: “Lạy Ngôi Ba Thiên Chúa, chúng con xin lỗi Ngài!”.

TIẾP NHẬN THÁNH THẦN…

Sách Công vụ Tông đồ kể: “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một” (Cv 2:1-3).

Hai hình ảnh xảy ra liên tiếp: Gió và Lửa. Gió là không khí. Không khí là thứ tối cần thiết, vì thiếu không khí trong vài phút thì người ta không thể sống nổi. Làn gió do quạt máy không làm người ta sảng khoái, nhưng chỉ một chút gió hiu hiu cũng đủ làm người ta tỉnh táo và cảm thấy hồi phục ngay. Tuy nhiên, nếu gió mạnh quá thành lốc hay bão thì chẳng gì có thể chống lại, cả tòa nhà cao lớn cũng bị gió thổi sập trong tích tắc. Lửa làm người ta ấm áp trong mùa Đông giá lạnh, một đốm lửa dễ dàng bị thổi tắt, nhưng đốm lửa đó cháy lan như những vụ hỏa hoạn thì con người chỉ biết đứng nhìn mà “cười ra nước mắt”. Nước cũng rất mềm, dễ ngăn cản, ai muốn làm gì thì làm, nhưng một khi Nước “nổi giận” thì con người không thể ngăn cản, chạy cũng không kịp: Triều cường, vỡ đê, lụt lội, sóng thần,…

Gió, Lửa và Nước như thế đấy, vừa yếu vừa mạnh, vừa mềm vừa cứng. Và đó chính là Thần Khí Chúa, là Đức Chúa Thánh Thần, là Thánh Linh, là Thần Chân Lý, là Ngôi Ba Thiên Chúa.

Khi Gió thổi tới và Lửa đậu trên đầu thì mọi người được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho. Hiện tượng “nói tiếng lạ” xảy ra ngay lập tức, nhiều người ngạc nhiên và hỏi nhau: “Thế nghĩa là gì?” (Cv 2:12), nhưng một số khác lại chế nhạo: “Mấy ông này say bứ rồi!” (Cv 2:13). Không lạ sao được khi họ nói đủ thứ tiếng vậy mà họ vẫn hiểu nhau, đặc biệt là ai nghe cũng thấy họ nói tiếng của mình. Nhưng tất cả là để “loan báo những kỳ công của Thiên Chúa!” (Cv 2:11; Tv 86:11).

Có Chúa Thánh Thần thì người yếu đuối cũng thành khỏe mạnh, người nhút nhát cũng thành người bạo dạn, người run sợ cũng thành người can đảm. Chắc hẳn mỗi chúng ta cũng đã từng cảm nghiệm được Chúa Thánh Thần tác động như vậy. Vì thế, chúng ta phải thốt lên: “Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi! Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, Chúa muôn trùng cao cả!” (Tv 104:1). Thiên Chúa tạo dựng mọi thứ, nếu “Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi; lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi” (Tv 104:29). Thật vậy, “sinh khí của Ngài do Ngài gửi tới, chúng được dựng nên, và Ngài đổi mới mặt đất này” (Tv 104:30). Chính Chúa Thánh Thần là Đấng canh tân mọi thứ, chúng ta có làm được gì cũng là nhờ Ơn Chúa, do đó chúng ta phải quyết tâm: “Nguyện tiếng lòng tôi làm cho Ngài vui thoả, đối với tôi, niềm vui là chính Chúa” (Tv 104:34).

…ĐỂ SỐNG CHỨNG NHÂN

Chúa Giêsu đã nhiều lần động viên chúng ta: “Đừng sợ!” (Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5 & 10; Mc 5:36; Mc 6:50; Lc 1:13 & 30; Lc 2:0; Lc 5:10; Lc 12:4; Lc 12:7; Lc 12:32; Lc 21:9; Ga 6:20). Sách Khải Huyền nhắc lại và giải thích: “Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1:17-18). Lúc sinh thời, chính Chân phước GH Gioan Phaolô cũng rất thích câu nói đó:“Đừng sợ!”. Không sợ thì mới dám “vào đời”, dám “ra khơi”, dám hành động và dám bảo vệ công lý, dám sống theo chân lý của Thiên Chúa (Tv 26:3).

Thánh Phaolô nói: “Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không còn thoả mãn đam mê của tính xác thịt nữa” (Gl 5:16), và giải thích: “Tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn” (Gl 5:17). Thánh Phaolô nói chi tiết hơn:“Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa. Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy” (Gl 5:18-21a). Chắc chắn rằng “những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa” (Gl 5:21b).

Trên đây là những điều ngược với Chúa Thánh Thần, còn những điều thuận với Chúa Thánh Thần? Đó là “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5:23). Tất nhiên, chẳng có luật nào chống lại những điều như thế – dù là luật đời. Thánh Phaolô nói: “Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê”(Gl 5:24). Trong Chuỗi Mân Côi, ở mầu nhiệm thứ 5 của Mùa Thương, Giáo hội dạy: “Ta hãy xin cho được đóng đinh tính xác thịt vào Thánh giá Chúa”. Đó là từ bỏ chính mình theo tác động của Chúa Thánh Thần. Và “nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước. Chúng ta đừng có tìm hư danh, đừng khiêu khích nhau, đừng ganh tỵ nhau” (Gl 5:25-26).

Chúa Giêsu đã hứa: “Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Ngài là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Ngài sẽ làm chứng về Thầy” (Ga 15:26). Và Ngài cũng đã giữ đúng lời hứa đó. Nhưng Ngài cũng trao trách nhiệm cho mỗi chúng ta: “Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu” (Ga 15:27). Sống chứng nhân là bổn phận chung. Chúa Giêsu nói “anh em” không có nghĩa là chỉ có phái nam, còn phái nữ “khỏe re”. Lúc đó Ngài nói với các Tông đồ nên chỉ nói “anh em”, không có từ “chị”, nữ giới đừng vì thế mà “tự ái”, “đùn đẩy” hoặc “né tránh” trách nhiệm. Nhưng ngày nay phải được hiểu là “anh chị em” (ngôi thứ hai số nhiều – you, vous, vosotros, voi), cả nam và nữ.

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã nhắn nhủ: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi” (Ga 16:12). Ngài biết chúng ta “không có sức chịu nổi” vì chưa được lãnh nhận Thần Chân Lý. Ngài xác định: “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Ngài sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Ngài sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Ngài nghe, Ngài sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. Ngài sẽ tôn vinh Thầy, vì Ngài sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16:13-14). Vì Ba Ngôi là Một nên Chúa Giêsu nói: “Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy” (Ga 16:15a). Và một lần nữa, Chúa Giêsu nhắc lại: “Ngài lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16:15b). Vậy là đã rõ ràng và chắc chắn, đúng như Đức Kitô đã hứa: “Thầy ở cùng anh chị em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28).

Lạy Chúa, xin soi sáng và dẫn chúng con đi theo đường chân lý của Ngài (Tv 25:5). Cuộc sống phàm nhân luôn nhiêu khê đủ thứ, xin Chúa luôn đồng hành và nâng đỡ chúng con theo đúng Thánh Ý của Ngài, để chúng con can đảm thể hiện yêu thương mọi người trong từng nhịp thở. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Chúa về trời, con vào đời May 17

(Chúa Nhật Thăng Thiên, năm B)

Chúa Giêsu vinh hiển về trời, còn chúng ta phải hiên ngang vào đời để làm chứng về Đức-Kitô-chịu-chết-và-phục-sinh, về Tình Yêu Vô Biên của Thiên Chúa, về Lòng Thương Xót của Ngài. Chúa Giêsu về trời là bảo chứng chắc chắn chúng ta cũng sẽ được về trời. Với hy vọng đó, chúng ta có thể can đảm và kiên trì vượt biển-đau-khổ-trần-gian để cặp Bến Bình An Thiên Quốc.

Theo sách Công vụ Tông đồ (Cv 1:1-11), Chúa Giêsu đã dạy bảo các Tông đồ mà Ngài đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần. Ngài còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy Ngài vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: Trong 40 ngày, Ngài đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Chúa.

CHÚA VỀ TRỜI

Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông đồ, Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, đó là “ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần”. Bấy giờ những người đang tụ họp ở đó tò mò hỏi: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không?”. Chắc là các ông cũng muốn “thơm lây” gì đó, vì con người vẫn nuôi hy vọng “một người làm quan, cả họ được nhờ”. Nhưng Chúa Giêsu thản nhiên: “Anh emkhông cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:7-8).

Nói xong, Ngài được cất lên ngay trước mắt các ông, khiến các ông chưng hửng và ngơ ngẩn. Lúc đó có đám mây quyện lấy Ngài, khiến các ông không còn thấy Ngài nữa. Bó tay! Đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Ngài đi, bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Ngài lên trời” (Cv 1:11).

Chúa đi rồi chắc hẳn các ông buồn lắm, và cũng có thể “trách yêu” là sao Thầy đi mà không nói trước. Các ông cũng có thể buồn vì từ nay không còn Đại Sư Phụ thì không biết xoay xở thế nào. Con người mà! Đại Sư Phụ biết lắm, thế nên Ngài đã hứa ban Chúa Thánh Thần để đủ tự tin mà hành động vì Chúa: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:8). Tất nhiên, Ngài hứa gì thì luôn thực hiện đúng.

Từ khi phục sinh, Chúa Giêsu không còn nhân tính mà chỉ còn thiên tính. Ngài ẩn hiện thoăn thoắt. Nay Ngài lại về trời, nghĩa là chúng ta cũng chắc chắn sống lại và về trời với Ngài. Vì thế: “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu” (Tv 47:2-3). Đồng thời, chúng ta “hãy đàn ca, đàn ca lên mừng Thiên Chúa, đàn ca lên nào, đàn ca nữa kính Vua ta!” (Tv 47:7). Thật vậy, “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu”, nên chúng ta phải “dâng Ngài khúc đàn ca tuyệt mỹ”. Tất nhiên những gì là tuyệt vời nhất thì phải được dành cho Thiên Chúa, vì “Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân, Thiên Chúa ngự trên toà uy linh cao cả” (Tv 47:9).

Vui mừng là biểu hiện có Chúa trong tâm hồn, nghĩa là chúng ta đang được Chúa Thánh Thần tác động. Chúng ta được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần, đủ can đảm đi giữa bầy sói mà không hề run sợ…

CHÚNG TA VÀO ĐỜI

Thánh Phaolô nói: “Tôi là người đang bị tù vì Chúa” (Ep 4:1a). Tự nhận là “tù nhân của Chúa” nên Thánh Phaolô không ngại nói: “Tôi khuyên nhủ anh chị em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh chị em. Anh chị em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh chị em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau” (Ep 4:1b-3). Ai cũng được Thiên Chúa kêu gọi, mỗi người mỗi trách nhiệm, mỗi người một loại “nén”, vấn đề là dùng những “nén” đó bằng cách nào và với mục đích gì. Không ai có quyền tự cho rằng “nén” của mình “có giá” hơn “nén” của người khác. Trước mặt Chúa, mọi người đều bình đẳng!

Bằng nhau ư? Đúng, vì “Thiên Chúa không thiên vị người nào. Hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Ngài tiếp nhận” (Cv 10:34). Vả lại, như Thánh Phaolô nói: “Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh chị em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng” (Ep 4:4). Đặc biệt là “chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa” (Ep 4:5). Thế thì sao không bình đẳng? Đúng là “chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người”, nhưng “mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tuỳ theo mức độ Đức Kitô ban cho” (Ep 4:7). Đó là điều mầu nhiệm, trí tuệ loài người không thể phân tích hoặc giải nghĩa thấu tình đạt lý.

Thánh Phaolô dẫn chứng rất lạ: “Có lời Kinh Thánh nói: Ngài đã lên cao, dẫn theo một đám tù; Ngài đã ban ân huệ cho loài người” (Ep 4:8). “Đám tù” đó là chúng ta chứ còn ai trồng khoai đất này nữa, vì chúng ta đều là những tử tù được Đức Kitô chịu chết để giải thoát chúng ta khỏi chốn-lao-tù-tội-lỗi-trầm-luân. Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Ngài đã lên nghĩa là gì, nếu không phải là Ngài đã xuống tận các vùng sâu thẳm dưới mặt đất? Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi tầng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn” (Ep 4:9-10). Hai động thái trái ngược là “lên” và “xuống”, nhưng hai động thái đó đều do chính Đấng-đã-chết-và-sống-lại thực hiện.

Ý Chúa quá mầu nhiệm: “Chính Ngài đã ban ơn cho kẻ này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ” (Ep 4:11). Vì thế mà tạo nên xã hội, cộng đoàn. Ai cũng làm giám đốc thì lấy đâu có công nhân? Ai cũng làm tổng thống thì lấy đâu nhân dân? Nếu vậy, ơn gọi “làm nhỏ” có khi còn quan trọng hơn ơn gọi “làm lớn” đấy. Vì Chúa Giêsu đã xác định: Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9:35). Ngài luôn bảo người ta “làm nhỏ” chứ không khuyên ai “làm lớn”, nhưng người ta thích làm ngược lại. Đừng khinh suất hoặc ảo tưởng! Thánh Phaolô giải thích: “Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tớitầm vóc viên mãn của Đức Kitô (Ep 4:12-13). Đó là cả một chu-trình-vào-đời của bất kỳ ai.

Chúa Giêsu sai mọi người vào đời khi Ngài nói: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án”(Mc 16:15-16). Ai thật và ai giả cũng được Ngài nói trước: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ” (Mc 16:17-18).

Thánh Máccô kể: “Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16:19-20). Và cho đến ngày nay, nhiều người cũng đã và đang “vào đời” như thế: Nói về Chúa, sống chứng nhân, sống gương mẫu, làm việc tốt, tha thứ cho người ghét mình, nghĩ tốt về người khác, rao truyền Tình Yêu Chúa, thực thi Lòng Chúa Thương Xót,…

Lạy Chúa, xin thêm cho chúng con ba đức đối thần (tin, cậy, mến) và các đức đối nhân để chúng con làm hành trang vào đời theo lệnh truyền của Đức Giêsu Kitô, Con Một của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Đại Sư Phụ Giêsu, Thiên Chúa Cứu Độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Hệ lụy Yêu thương May 05

(Chúa Nhật VI Phục Sinh, năm B)

“Yêu là chết trong lòng một ít”. Ai đã yêu thì “chết” chắc, không nhiều thì ít. Mà thường thì “nhiều” chứ không “ít”. Một người không thể gọi là yêu, ít nhất phải có hai người mới khả dĩ có tình yêu. Dù yêu đơn phương vẫn có “đối tượng”. Tình yêu cũng có hệ lụy tất yếu. Có tình yêu thì có thể dẫn tới nhiều hệ lụy khác. Nhưng con người luôn bất toàn, bất túc, bất trác,… “bất” đủ thứ! Cố NS Trịnh Công Sơn tâm sự: “Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về…”. Ông không gọi mà biển gọi, biển nhớ em chứ ông không nhớ. Nhưng ông đang rất… nhớ. Bất toàn là thế đó!

Chúa quá yêu chúng ta, yêu đến chết, thế mà chúng ta vẫn bỏ rơi Ngài, phụ tình Ngài một cách trắng trợn. Chắc chắn Chúa cũng rất nhớ chúng ta!

“Nhân vô thập toàn”, một câu nói quá quen, quen đến nỗi hóa… quá bình thường – nghĩa là “không còn quan trọng”. Thế nhưng câu đó lại quan trọng, quan trọng vì… “quá bình thường”. Nghe chừng nghịch lý, nhưng không hề nghịch lý.

Khi ông Phêrô bước vào, ông Conêliô liền ra đón và phủ phục bái lạy dưới chân ông Phêrô. Nhưng ông Phêrô đỡ ông ấy lên và nói: “Xin ông đứng dậy, vì bản thân tôi đây cũng chỉ là người phàm” (Cv 10:25-26). Đó là phong-cách-bình-thường mà quan trọng, biết mình và biết người, giản dị như bản chất một ngư dân, nhưng con-người-bình-thường ấy đã được Thiên Chúa cất nhắc lên làm giáo-hoàng-tiên-khởi, được trao trọng trách chăn cả chiên mẹ và chiên con (x. Ga 21:15-19).

Ông Phêrô lên tiếng nói: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Ngài tiếp nhận” (Cv 10:34-35). Một cách mô tả mộc mạc và dễ hiểu về Thiên Chúa, nhưng cách mô tả đó chính xác. Thiên Chúa không thiên vị, nhưng đôi khi chúng ta “bắt” Ngài thiên vị như chúng ta, vì chúng ta làm gì cũng thường theo định kiến cá nhân nhiều hơn.

Ông Phêrô còn đang nói những điều đó thì Thánh Thần ngự xuống trên tất cả những người đang nghe lời Thiên Chúa. Phép lạ hiển nhiên. Vì thế, những tín hữu thuộc giới cắt bì cùng đến đó với ông Phêrô đều kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần xuống trên cả các dân ngoại nữa, bởi họ nghe những người này nói các thứ tiếng và tán dương Thiên Chúa. Thiên Chúa không thiên vị, tất nhiên Ngôi Ba cũng không chút thiên vị, vì Chúa Thánh Thần xuống trên mọi người – kể cả dân ngoại.

Rồi ĐGH Phêrô đặt vấn đề: “Những người này đã nhận được Thánh Thần cũng như chúng ta, thì ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm phép rửa cho họ?” (Cv 10:47). Ai đến với Chúa đều được Ngài tiếp nhận, chắc chắn vậy. Và ông Phêrô đã truyền làm phép rửa cho họ nhân danh Đức Giêsu Kitô. Làm bất cứ điều gì cũng phải nhân danh Chúa, vì tất cả chúng ta đều là huynh đệ và hoàn toàn phải nhờ Ngài: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Nhưng nhiều khi chúng ta xin mà không nhân danh Đức Kitô, có lẽ chúng ta quên rằng: “Bất cứ điều gì anh chị em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con” (Ga 14:13). Vị Thiên-Chúa-toàn-năng ấy được tác giả Thánh vịnh mô tả thế này: “Ngài là Thiên Chúa nhân hậu từ bi, Ngài chậm giận, lại giàu tình thương và lòng thành tín” (Tv 86:15).

Chúng ta là những người bất toàn, còn Thiên Chúa là Đấng toàn năng. Vì thế, chúng ta phải “hát lên mừng Chúa một bài ca mới, vì Ngài đã thực hiện bao kỳ công” (Tv 98:1a). Kỳ công của Chúa vô vàn, khôn xiết kể, “Ngài chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh, nhờ cánh tay chí thánh của Ngài” (Tv 98:1b). Thiên-Chúa-chí-minh-và-chí-công đã “biểu dương ơn Ngài cứu độ, mặc khải đức công chính của Ngài trước mặt chư dân; Ngài đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa dành cho nhà Ít-ra-en” (Tv 98:2-3a). Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Cho nên: “Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu, mừng vui lên, reo hò đàn hát” (Tv 98:4).

Thánh Gioan căn dặn: “Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa” (1 Ga 4:7a), đồng thời giải thích: “Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:7b-8). Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: “Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Ngài mà chúng ta được sống” (1 Ga 4:9). Đức Kitô đã chết không chỉ cho chúng ta được sống mà còn sống dồi dào. Người-môn-đệ-Chúa-yêu là người có “máu yêu” nên thích nói về tình yêu. Người môn đệ ấy giải thích: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4:10). Nói đến tình yêu, đặc biệt là Tình yêu Chúa, nói đến Thánh Tâm Chúa hoặc Lòng Chúa Thương Xót, chẳng bút giấy nào tả hết và nói mãi cũng không thể lột tả đúng mức.

Chúa Giêsu nói rất dễ hiểu: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15:9). Chắc hẳn Thánh Augustinô đã cảm nhận sâu sắc tình yêu ấy nên mới có thể nói: “Mức độ yêu mến Chúa là yêu mến vô hạn”. Vì không chỉ Chúa muốn mà chúng ta có trách nhiệm phải “yêu mến Chúa hết linh hồn và hết trí khôn”. Yêu Chúa là yêu tha nhân. Nếu yêu như vậy, chúng ta chỉ lời chứ không hề lỗ: “Nếu anh chị em giữ các điều răn của Thầy, anh chị em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Ngài” (Ga 15:10).

Ngài muốn chúng ta “được hưởng niềm vui của Ngài” để “niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” (Ga 15:11). Điều răn của Ngài rất đơn giản, tuy hai mà một, là luật-yêu-hai-trong-một: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15:12). Chúa Giêsu so sánh: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Hai người yêu nhau là hai người đồng đẳng, Chúa yêu chúng ta và Ngài cũng coi chúng ta ngang hàng: “Anh chị em là bạn hữu của Thầy” (Ga 15:14a), nhưng với điều kiện: “Nếu anh chị em thực hiện những điều Thầy truyền dạy” (Ga 15:14b). Tội nhân chúng ta được tha thứ là may phước lắm rồi, thế mà Chúa lại còn gọi chúng ta là bạn hữu: “Thầy không còn gọi anh chị em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh chị em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh chị em biết. Không phải anh chị em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh chị em, và cắt cử anh chị em để anh chị em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh chị em tồn tại, hầu tất cả những gì anh chị em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Ngài ban cho anh chị em” (Ga 15:15-16). Đó là điều quá kỳ diệu, trên cả tuyệt vời, và tất nhiên chúng ta quá may mắn và quá hạnh phúc!

Cuối cùng, Chúa Giêsu nhắc lại: “Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15:17). Chúa Giêsu luôn nói tới tình yêu, cứ nhắc đi nhắc lại, và còn ra Luật Yêu.

Lạy Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, xin ân thương và tha thứ. Nhờ Lòng Thương Xót của Ngài lớn hơn tội lỗi của cả nhân loại mà chúng con được dìm mình trong Tình Yêu bao la và kỳ diệu của Ngài, hôm nay và mãi mãi. Xin giúp chúng con đừng tiếp tục lợi dụng Tình Ngài nữa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Giáo họ Thánh Mẫu 3 tạ ơn Lòng Chúa Thương Xót May 05

TGP SAIGON – Thứ Sáu ngày 4-5-2012, trong tuần IV Phục Sinh, Giáo họ Thánh Mẫu 3 đã tổ chức Thánh lễ Tạ ơn Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) theo lịch luân phiên của Giáo hạt Gia Định.

Là một Giáo họ của Giáo xứ Thánh Mẫu, thế nên nhà thờ của Giáo họ Thánh Mẫu 3 (99 Bùi Đình Tuý, P. 12, Q. Bình Thạnh, Saigon) cũng nhỏ bé và giản dị. Nhìn nhà thờ chen lẫn giữa các cao tầng sang trọng khác, người ta dễ cảm thấy nhà thờ Giáo họ Thánh Mẫu 3 có sự khiêm nhường, mà khiêm nhường là nền tảng mọi nhân đức. Nhà thờ nhỏ lại có 2 mặt là đường phố, thế nên rất ồn ào. Điều này lại nhắc nhở người ta phải chịu đựng để có thể cầm lòng cầm trí mà tham dự các giờ phụng vụ. Chính ngôi nhà thờ nhỏ này nhắc chúng ta về 2 bài học giá trị: Khiêm nhường và Chịu đựng.

Cái nắng hè bỗng dưng “nhẹ” hơn mấy ngày trước, và cái nóng cũng dịu hẳn xuống. 14 giờ 30 bắt đầu lần chuỗi LCTX. 15 giờ bắt đầu Thánh lễ, đúng “giờ linh” của Lòng Chúa Thương Xót. Chủ tế là Linh mục phụ tá Giuse Mai Thanh Tùng. Số người tham dự Thánh lễ khoảng 300 người. Trong nhà thờ không còn chỗ nên một số người phải ngồi ở “hành lang Nhà Chúa”. Ca đoàn mặc đồng phục là áo thụng trắng với miếng choàng vai tròn màu vàng, nhìn khá dễ thương, đa số là các thiếu niên nhưng hát khá vững vàng.

Đáp ca là Thánh vịnh 88 (89): “Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng, qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài” [Tv 88 (89):2]. Tại sao chúng ta ca tụng tình thương của Chúa? Bởi vì “tình thương ấy được xây dựng tới thiên thu, lòng thành tín Chúa được thiết lập trên trời” [Tv 88 (89):3]. Tình thương ấy là chính Lòng Chúa Thương Xót, mà Lòng Chúa Thương Xót đã có từ trước muôn đời. Thánh Thể, Thánh Tâm và Lòng Chúa Thương Xót là những cách gọi khác của Tình Yêu Thiên Chúa, vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8 & 16).

Phúc âm hôm nay là đoạn Tin Mừng theo Thánh sử Gioan (Ga 19:31-34), nói về “giờ linh” của Lòng Chúa Thương Xót, thời điểm mà Chúa Giêsu trút hơi thở trên Thập giá.

Thánh Gioan kể: Hôm đó là ngày áp lễ, người Do Thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày Sa-bát, mà ngày Sa-bát đó lại là đại lễ. Vì thế họ xin ông Philatô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống. Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Khi đến gần Đức Giêsu và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, Máu cùng Nước chảy ra”.

Câu Kinh thánh rõ ràng liên quan Lòng Chúa Thương Xót: “Máu cùng Nước chảy ra” (Ga 19:34). Điều này đã được chính Chúa Giêsu mặc khải cho Thánh Faustina để nhờ người vẽ linh ảnh Lòng Chúa Thương Xót (như chúng ta thấy ngày nay).

Thánh Gioan tự nhận là “người xem thấy việc này đã làm chứng”, đồng thời đoan chắc rằng “lời chứng của người ấy xác thực, và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh chị em cũng tin” (Ga 19:35). Lời Kinh Thánh ứng nghiệm: “Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập” (Ga 19:36). Lời Kinh Thánh khác cũng ứng nghiệm: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19:37). Ngay trên đồi Can-vê cũng đã có người nhìn Đấng-mà-họ-đâm-thâu và cảm nghiệm được Lòng Chúa Thương Xót, đó là viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và phải thốt lên: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27:54).

LM Giuse Tùng nói: “Chúng ta cầu nguyện không chỉ cầu xin mà còn phải lắng nghe tiếng Chúa qua Lời Chúa, qua người khác, qua các bệnh nhân, các trẻ em, các người ngoại giáo,… Và cầu nguyện không chỉ là cầu cho mình mà còn phải cầu cho những người khác, kể cả kẻ thù”.

LM Giuse Tùng cho biết thêm rằng Cộng đoàn Lòng Chúa Thương Xót của Giáo họ Thánh Mẫu 3 là cộng đoàn đầu tiên của Giáo hạt Gia Định. Giáo họ nhỏ với khoảng 1.700 giáo dân mà tiên phong như vậy thì thật đáng trân trọng và đáng noi gương. Thật ra không ai lại không cần đến Lòng Chúa Thương Xót, vì ngay cả những người thánh thiện cũng tìm về với Chúa qua “con đường tội lỗi và thứ tha”. Vậy không ai có thể viện cớ bất kỳ lý do gì mà lại ngăn cản hoặc không chạy đến Lòng Chúa Thương Xót.

Đến với Lòng Chúa Thương Xót không vì phép lạ, mà trước tiên phải vì yêu mến và nhận biết mình là tội nhân. Còn việc Chúa làm phép lạ cho mình hay không là quyền của Ngài, vì Ngài biết rõ những gì có lợi hoặc có hại đối với chúng ta. Vậy mới xứng đáng nói: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài”. Nếu đã tín thác vào Chúa thì đừng “đặt điều kiện” với Ngài!

Thánh lễ hôm nay được LM Giuse Tùng cử hành một cách trang trọng: Hát kinh Vinh Danh và ban Phép Lành trọng thể. Chắc hẳn ngài là một linh mục có chiều sâu nội tâm, vì cuối lễ, theo lệ thường là người đại diện nói lời cảm ơn. Thế nhưng ngài tỏ ý không muốn được cảm ơn hoặc nhận lẵng hoa, và nói: “Cảm ơn như vậy là sáo lắm. Thiết nghĩ chúng ta nên cùng quây quần bên linh ảnh Lòng Chúa Thương Xót và cầu nguyện, như vậy có ý nghĩa hơn và chân tình hơn”.

Rất tiếc người đại diện đã không làm theo “ý tốt lành” của ngài! Và chắc hẳn có một số người cũng không “thích” cách làm của LM Giuse Tùng. Tuy nhiên, nếu hiểu sâu và hiểu rộng thì ngài rất có lý khi có cách thể hiện như vậy, vì đó là “nhiệm vụ mà Chúa Giêsu đã trao”. Mong sao các linh mục đều biết sống có “chiều sâu” đúng với Tôn Ý của Đại Sư Phụ Chí Thánh Giêsu.

Kết lễ là bài Thánh ca “Trong Trái Tim Chúa Yêu” của Nhạc sĩ Phanxicô: “Trong trái tim Chúa yêu muôn đời, con xin được một chỗ nghỉ ngơi, nhỏ bé thôi, nhỏ bé thôi…”. Giai điệu nhẹ nhàng, tiết tấu giản dị, ca từ đơn sơ, nhưng có thể khiến lòng người lắng đọng và bình an với niềm tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Tin tức Công giáo May 04

Mormons tăng, Công giáo giảm

CWN (3-5-2012) – Theo điều tra tôn giáo của Hiệp hội Dữ liệu Tôn giáo, số người theo đạo Mormons (Đa thê giáo) ở Hoa Kỳ tăng gần 50% từ năm 2000 tới năm 2010, trong khi số người Công giáo “tích cực” đã giảm 5%.

Cuộc điều tra này cho thấy chỉ 48,8% người Mỹ là những người trung thành với tôn giáo, trong khi 158,1 triệu người Mỹ “không nhận có tôn giáo”. Cuộc điều tra này ước tính số người Công giáo năm 2010 là 58,9 triệu; theo cuốn Danh bạ Công giáo Chính thức, dùng số liệu của các giáo phận, số người Công giáo là 68,3 triệu.

Cuộc điều tra này cũng ước tính có 50 triệu tín đồ Tin Lành theo phái Kinh thánh, 22,7 triệu tín đồ Tin Lành chính thống (giảm 13% trong 10 năm), 4,9 triệu tín đồ Tin Lành da đen, và 1,1 triệu tín đồ Chính thống giáo ở Hoa Kỳ năm 2010. Có 13,1 triệu người thuộc các tôn giáo khác gồm 6,1 triệu tín đồ Mormons, 2,6 triệu tín đồ Hồi giáo, 2,3 triệu tín đồ Do Thái giáo, 990.000 tín đồ Phật giáo, và 640.000 tín đồ Ấn giáo.

TRẦM THIÊN THU

Hơn 100.000 người lớn ở Nam Hàn được rửa tội năm 2011

CWN (3-5-2012) – Đã có 134.562 người được rửa tội ở Nam Hàn trong năm 2011, kể cả hơn 100.000 người lớn, đưa số người Công giáo ở Nam hàn lên tới 5,3 triệu.

ĐGM Lazarô You Heung-sik của GP Daejeon, chủ tịch HĐGM, nói rằng giáo dân là khí cụ trong việc đưa người khác đến với đức tin. Ngài nói: “Giáo hội Nam hàn tùy thuộc nhiều vào họ đối với mỗi tín hữu phải phải rao truyền Phúc âm”.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Tận hiến cho Đức Mẹ May 02

Đây là bài trích từ bài thuyết trình của ông Howard Dee trong dịp Hành hương Quốc gia lần IV tới Lipa ngày 12-9-2007. Ông Dee là nguyên Đại sứ tại Vatican, có lòng tôn sùng Đức Mẹ, và là tác giả 2 cuốn sách về Đức Mẹ: Tặng phẩm Quý giá nhất của Thiên Chúa dành cho Nhân loại Ngày nay (God’s Greatest Gift to Mankind Today) và Số phận Cuối cùng của Nhân loại (Mankind’s Final Destiny).

Chúng ta hãy bắt đầu bằng định nghĩa của sự tận hiến. Theo Webster, tận hiến là hiến dâng cho một mục đích thánh (sacred purpose).

Chẳng hạn, khi một giám mục thánh hiến một nhà thờ, đó là dâng hiến cho mục đích thánh là thờ phượng Thiên Chúa. Điều đó có ý nghĩa gì đối với chúng ta, những người tin theo Chúa Giêsu, được tận hiến cho Đức Mẹ?

Để trả lời, tôi dùng định nghĩa uy tín (authoritative definition) của thánh Louis Marie Grignon de Montfort (gọi tắt là Louis Montfort), vị thánh rất yêu mến Đức Mẹ mà Chân phước Gioan Phaolô II đã dâng trọn đời mình cho Đức Maria, và đã chọn khẩu hiệu giáo hoàng của ngài là Totus Tuus, Maria! (Tất cả nhờ Mẹ Maria!).

Thánh Louis de Montfort nói rằng tận hiến cho Đức Mẹ là dâng trọn đời mình cho Đức Trinh Nữ, để hoàn toàn thuộc về Chúa Giêsu qua Mẹ Maria. Tận hiến cho Đức Mẹ nghĩa là chúng ta dâng hiến cuộc đời mình, công việc, trái tim và khối óc, thân xác và linh hồn, vì mục đích thánh: để Thiên Chúa được tôn vinh nơi chúng ta, nhờ chúng ta và qua chúng ta, theo gương Mẹ Maria. Theo công thức tận hiến của thánh Montfort (Montfortian formula of Consecration), ngay cả những gì sở hữu, bên trong và bên ngoài, cả những nhu cầu tốt lành của chúng ta, cả quá khứ, hiện tại và tương lài, đều được phó thác cho Mẹ Maria qua việc tận hiến cho Mẹ Maria, để Mẹ sắp xếp như Mẹ muốn, vì vinh danh Thiên Chúa.

Do đó, tận hiến cho Đức Mẹ là một động thái theo Phúc âm là chết cho chính mình, hy sinh và tự nguyện phục tùng, theo tinh thần Totus Tuus, hiến dâng mọi thứ vì mục đích thánh, mục đích mà Thiên Chúa tạo dựng chúng ta, để chúng ta hoàn toàn thuộc về Ngài. Nhờ sự tận hiến của chúng ta, Mẹ Maria trở nên Đấng bầu cử riêng (personal intercessor) và là Đấng trung gian (Mediatrix) giữa chúng ta với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, đưa chúng ta tới sự sống dồi dào (abundant life) mà Chúa Giêsu đã hứa ban khi Ngài nói: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10:10). Sự sống dồi dào này là sự sống trong Chúa Thánh Thần, sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Qua động thái hoàn toàn tận hiến cho Mẹ Maria, Chúa Giêsu hoàn tất lời hứa của Ngài đối với chúng ta về sự sống dồi dào khi Đức Mẹ đưa chúng ta vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, sự sống thật của mỗi Kitô hữu.

Điều gì xảy ra khi chúng ta tận hiến hoàn toàn cho Đức Mẹ? Cũng như Mẹ nói lời “xin vâng” (fiat) khi được sứ thần truyền tin, Chúa Thánh Thần dùng chính lời xin vâng của chúng ta, kết hợp với lời xin vâng của Mẹ Maria, để hành động trong chúng ta, Chúa Giêsu được tái sinh trong chúng ta và chúng ta được tái sinh trong Ngài. Chúng ta trở nên Kitô khác (alter-Christ), con cái đích thực của Mẹ Maria, các Kitô hữu và môn đệ đích thực của Đức Kitô.

Qua bí tích Thánh Thể, Bửu huyết của Chúa Giêsu ngấm vào chúng ta, đó là Máu mà Chúa Giêsu lấy từ Đức Mẹ, làm cho chúng ta thực sự là con ruột (blood children) của Đức Maria. Có Đức Maria là Mẹ ruột của chúng ta, và Chúa Giêsu là Anh Cả, chúng ta khả dĩ “yêu cầu” phần thừa kế trọn vẹn từ Chúa Cha (we can claim our full inheritance from the Father).

Tại sao chúng ta tận hiến cho Thánh Tâm Vô Nhiễm Đức Mẹ? Vì như Chúa Giêsu đã dạy, trái tim chúng ta là kho tàng. Trái Tim Mẹ là vị trí của yêu thương và trái tim đó chỉ có thể yêu một chủ. Hoặc là yêu Chúa, hoặc là yêu thế gian. Chúng ta không thể yêu cả hai chủ. Chúa Giêsu nói rằng chúng ta sẽ yêu chủ này và ghét chủ kia. Với Thánh Tâm Vô Nhiễm Đức Mẹ cũng vậy. Trái Tim Mẹ hoàn toàn tận hiến cho Thiên Chúa. Kho tàng quý nhất của Mẹ là Thánh Tâm Chúa Giêsu, và Thánh Tâm Chúa Giêsu luôn ở trong Trái Tim Mẹ. Khi chúng ta tận hiến cho Trái Tim Mẹ, chúng ta trở nên phần kho báu của Mẹ và được hưởng huê lợi trực tiếp (direct beneficiaries) bằng đường vào ân sủng qua Mẹ Maria là Đấng Trung chuyển mọi Ân sủng (Mediatrix of All Grace). Khi hiện ra với tôn danh Đức Mẹ Hoa Kỳ (Our Lady of America), Đức Mẹ nói rằng “Trái Tim Mẹ là Trái Tim Vô Nhiễm, là kênh hồng ân của Thánh Tâm Chúa, được trao ban cho nhân loại”.

Tận hiến cho Trái Tim Mẹ không chỉ là động thái phó thác. Theo thánh Montfort, đó là đường sự sống, là hoàn tất lời hứa Thánh Tẩy (baptismal vows). Thánh nhân giải thích:

Tất cả sự hoàn thiện của chúng ta được làm cho thích nghi, được kết hợp và tận hiến cho Chúa Kitô, do đó trở nên lòng tôn sùng hoàn hảo nhất, không chút nghi ngờ, đó là sự thích nghi hoàn hảo nhất, kết hợp và tận hiến cho Chúa Giêsu. Mẹ Maria là người thích nghi nhất với Chúa Giêsu, sự tận hiến làm cho linh hồn thích nghi với Chúa là tận hiến cho Đức Mẹ, và càng tận hiến cho Đức Mẹ thì càng tận hiến cho Chúa Giêsu.

Bằng cách lý luận của thánh Montfort, chúng ta càng tận hiến cho Thánh Tâm Vô Nhiễm Đức Mẹ thì chúng ta càng được tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, Con của Đức Mẹ. Chân phước Gioan Phaolô II đã từng dạy chúng ta rằng Thánh Tâm Chúa Giêsu được hình thành dưới Trái Tim Đức Mẹ và Bửu huyết chảy qua Thánh Tâm Chúa được lấy từ Máu của Đức Maria.

Khi hiện ra với tôn danh Đức Mẹ Hoa Kỳ, Mẹ nói rằng ân sủng từ Thánh Tâm Chúa Giêsu được phân phát qua Thánh Tâm Vô Nhiễm Đức Mẹ. Mối liên kết giữa Chúa Giêsu và Mẹ Maria được Chân phước Gioan Phaolô II giải thích là được đóng ấn dưới chân Thánh giá khi viên quan chỉ huy (centurion) đâm vào Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim Đức Mẹ, hoàn tất lời hứa với thánh Simeon khi Chúa Giêsu được dâng hiến trong đền thờ.

Theo thánh Alphongsô Ligôri, vị sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế (Redemptorist Order), cô gái Maria được chọn làm Mẹ Thiên Chúa bằng sự Đồng công Cứu chuộc (Co-redemptrix) và Trung gian (Mediatrix); một “chiếu chỉ” (divine decree) được tiền định cho Đức Mẹ đối với sứ vụ gấp đôi này.

Thánh Alphongsô cân nhắc thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa theo ánh sáng của Ơn Cứu Độ. Nghiên cứu về lý do nhập thể, ngài theo luận điểm (thesis) của thánh Thomas Aquinas: “Nếu loài người không phạm tội, Thiên Chúa sẽ không nhập thể”. Do đó, lý do tối hậu của sự nhập thể là cứu độ nhân loại. Đức Maria trở nên Mẹ của Đấng Làm Người để trở nên Đấng Cứu Độ và để đền tội cho thế gian; không có tội nhân thì Thiên Chúa không nhập thể, và Đức Maria cũng không là Mẹ Thiên Chúa.

Do đó, sứ vụ của Mẹ được kết hợp với sứ vụ của Chúa Kitô. Các sứ vụ này đã được tiền định để bảo đảm Ơn Cứu độ cho nhân loại sa ngã, qua đó mà Ơn Cứu độ mang dấu ấn của Lòng Thương Xót và Đặc ân Tha thứ. Điều này đã được Chúa Cha ra “chiếu chỉ” tại Vườn Địa Đàng (Garden of Eden) khi Ngài nói với Luxiphe rằng “đầu nó sẽ bị đạp nát dưới gót chân của một phụ nữ”.

Với đặc ân là Mẹ Thiên Chúa, Đức Maria hợp tác với Chúa Giêsu trong việc cứu độ nhân loại, trở thành Đấng Đồng công Cứu chuộc, và hiện nay Mẹ là Đấng Trung chuyển Ân sủng từ Thiên quốc. Thánh Alphongsô dạy:

Như các Giáo phụ đã nói với chúng ta, Đức Maria trở nên Người Mẹ tâm linh của chúng ta hai lần. Lần một, khi Mẹ thụ thai Con Thiên Chúa, bằng lòng tận hiến vì công cuộc cứu độ, do đó mà Mẹ cũng mang thai chúng ta trong lòng Mẹ. Lần hai, khi Mẹ sinh chúng ta trong ân sủng trên Núi Sọ, Mẹ dâng chúng ta cho Chúa Cha Hằng Hữu, trong nỗi buồn sâu thẳm của tâm hồn, sự sống của Con Mẹ để cứu độ chúng ta.

Theo ĐHY Luis Aponte Martinez ở Puerto Rico, khi sứ thần truyền tin, Đức Maria đã xin vâng với Chúa Cha, để Chúa Thánh Thần dùng linh quyền cho Mẹ thụ thai Ngôi Hai Thiên Chúa, Con Một Dấu Yêu của Chúa Cha, rồi Chúa Cha ban lệnh từ lúc đó, mọi ân sủng được trao ban cho nhân loại sẽ qua Mẹ Maria là Đấng Trung chuyển Ân sủng. Các Kitô hữu đều muốn sản sinh Đức Kitô trong cuộcsống của họ, điều này chỉ khả thi nhờ hành động kết hợp của Chúa Thánh Thần nơi họ qua Mẹ Maria, Đấng vừa Đồng công Cứu chuộc vừa Trung chuyển Ân sủng.

Tôi còn nhớ rõ, từ khóa Maria học (Mariology classes), tôi được may mắn tham dự với Đức cố Hồng y Jaime Sin, ngài nói với chúng tôi rằng không có thánh nhân trên trời nào lại không tôn sùng Đức Mẹ. Đó là lý do Mẹ là Nữ vương và Khuôn mẫu của các Thánh (Queen and Molder of All Saints).

Chúa Cha đã tạo nên Trái Tim Đức Mẹ để thay thế tình yêu hoàn hảo của Ngài. Mặt khác, Đức Mẹ còn đáp lại Tình yêu Thiên Chúa, tình yêu hoàn hảo đối với tình yêu hoàn hảo. Theo thánh Thomas Tiến sĩ Thiên thần (Thomas Aquinas), cuộc trao đổi tình yêu này được biểu hiện bằng sự trao đổi các tặng phẩm. Đức Mẹ trao cho Thiên Chúa, Đấng Trường sinh, một cơ thể con người và khả năng chết (power to die). Khi trao đổi, Thiên Chúa trao cho Đức Mẹ khả năng không chết (power not to die) và Đức Mẹ được chấp nhận vào Nước Trời, cả thể xác và linh hồn.

Nếu chúng ta sống tận hiến cho Đức Mẹ, Chúa Thánh Thần sẽ thánh hóa chúng ta và trao cho chúng ta khả năng chết cho chính mình và khả năng sống vĩnh hằng với Thiên Chúa. Vậy bạn phải làm gì sau khi tận hiến cho Đức Mẹ? Thánh Alphongsô nói rằng tận hiến không chỉ là một nghi thức mà còn liên quan cách sống. Năm 1957, Đức Mẹ hiện ra tại Hoa Kỳ và được nói lại vào ngày 22-8-2007:

Hỡi con của Mẹ, Mẹ phải làm gì khi con cái quay lưng với Mẹ? Hòa bình giả tạo của thế gian này quyến rũ họ và cuối cùng sẽ hủy diệt họ. Họ tưởng họ đã tận hiến đủ cho Thánh Tâm Vô Nhiễm của Mẹ. Không đủ đâu. Đó là điều Mẹ muốn và quan trọng nhất, nhiều người đã không tận hiến cho Mẹ. Điều Mẹ muốn thì Mẹ đã xin, và sẽ tiếp tục xin là sửa đổi đời sống. Phải có sự thánh hóa trong đó. Mẹ sẽ tác động phép lạ hồng ân của Mẹ nơi những người cầu xin và thanh tẩy linh hồn họ sạch những dấu vết tội lỗi đã làm mất lòng Con của Mẹ. Những linh hồn tội lỗi không thể đón nhận kho tàng ân sủng mà Mẹ trao cho họ.

…Hỡi con yêu dấu, Mẹ muốn quy tụ về bên Mẹ những chiến binh dũng cảm cầm đuốc sáng, một đội quân can đảm yêu thương, những người cầm đuốc sáng sẽ thắp lên ngọn lửa Lòng Chúa Thương Xót trong tâm hồn con người. Chỉ những người mạnh mẽ trong yêu thương mới có thể trở nên binh sĩ của Mẹ mà giương cao ngọn đuốc, không phải lưỡi kiếm hủy diệt mà là lưỡi kiếm lửa, ngọn đuốc thắp sáng Lòng Từ Ái của Thiên Chúa.

Đức Mẹ hướng dẫn rằng ước muốn của Trái Tim Mẹ được chuyển tới giám mục địa phương. Đức Mẹ nói: “Hãy đi gặp Đức giám mục, nói với ngài về những ước muốn của Trái Tim Mẹ. Chúng ta sẽ giúp đỡ con”.

Thật may mắn khi chúng ta ở Philippines, chúng ta không phải thuyết phục các giám mục về các ước muốn của Thánh Tâm Vô Nhiễm Đức Mẹ. Rather, chúng ta có những giám mục yêu mến Đức Mẹ như Đức TGM Ramon Arguelles luôn kêu gọi các tín hữu vâng theo sự thôi thúc của Thánh Tâm Vô Nhiễm Đức Mẹ. Tại sao việc tận hiến cho Thánh Tâm Vô Nhiễm Đức Mẹ lại quan trọng đối với thế giới ngày nay như vậy? Chúng ta lại theo ĐHY Aponte Martinez. ĐGH đã kêu gọi tại Hội nghị Hồng y ở Rôma:

Với mối quan tâm đặc biệt về mệnh lệnh đại kết ngày nay, đây không là một trong các nhu cầu cấp bách nhất của Kitô giáo và sự cầu bầu của Đức Mẹ về sự đoàn kết hay sao? Bây giờ không là thời gian kêu xin Đức Mẹ dùng cả sức mạnh tâm linh của Trái Tim Mẹ để liên kết con cái của Chúa thành một hay sao? Đây là cơ hội trở về với Đức Mẹ để cầu khẩn hồng ân cần thiết làm viên mãn lời cầu chưa trọn vẹn của Chúa Giêsu: “Xin cho mọi người nên một” (x. Ga 17:21).

Thánh Montfort đã nói tiên tri với những người theo ngài là sẽ được hoàn tất trong thế giới ngày nay. Ngài nói rằng Chúa Giêsu, trong lần thứ nhất, đã đến thế gian qua Mẹ Maria, lần thứ nhì Ngài cũng sẽ đến qua Mẹ Maria. Có nhiều dấu hiệu cho thấy lần đến thứ nhì của Chúa Giêsu không còn xa nữa, chúng ta cần hành động như những cô trinh nữ khôn ngoan chuẩn bị đủ dầu để thắp sáng đèn và tỉnh thức chờ Tân Lang.

Không còn cách nào tốt hơn là tận hiến cho Trái Tim Đức Mẹ, đó là thắp sáng “đèn tâm hồn” để cùng Đức Mẹ chờ Chúa Con đến. Tân Lang sẽ đến hỏi Tân Nương, tức là Giáo hội, về các tín hữu là Dân yêu dấu của Thiên Chúa.

Nhờ tận hiến cho Thánh Tâm Vô Nhiễm Đức Mẹ, chúng ta sẽ được tái sinh trong Chúa Giêsu, và trái tim chúng ta được thắp sáng ngọn lửa sùng kính sẽ là những ngọn đèn thắp sáng đường đi cho Chúa Giêsu đến thế gian lần thứ nhì. Chúng ta sẽ là những người cầm đuốc sáng của Mẹ Maria để thắp sáng Lòng Chúa Thương Xót trong tâm hồn con người, cả nam phụ lão ấu, làm ngay ngắn con đường cho Đức Vua tái lâm.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ all-about-the-virgin-mary.com)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Liên đới May 01

(Chúa Nhật V Phục Sinh, năm B)

chum_nhoCuộc sống là tập hợp những mối quan hệ đa dạng, không ai là một ốc đảo. Người này luôn có mối liên đới với người kia – dù không quen biết hoặc xa cách nhau hàng ngàn cây số. Liên đới với nhau về những điều tốt đã đành, thậm chí người ta còn liên đới với nhau cả những điều xấu. Mối liên đới càng rõ ràng khi mối quan hệ càng thân thiết.

Có “chiều kích xã hội” vì nó nằm trong cách chúng ta có thể phạm tội.Chúng ta có thể phạm tội không chỉ là hành động trực tiếp của mình, mà còn gián tiếp liên can các tội lỗi do người khác phạm trực tiếp. Chúng ta phạm tội qua hành động của người khác bằng cách: Tư vấn, mệnh lệnh, ưng thuận, khiêu khích, nịnh bợ, che giấu, đồng lõa, im lặng, biện hộ. Vì vậy, cần lưu ý:

a) Chúng ta đừng gây nguy hiểm cho linh hồn mình bằng cách can dự vào tội lỗi của người khác.

b) Chúng ta đừng gây nguy hiểm cho linh hồn người khác bằng cách lôi kéo họ vào tội lỗi của mình.

Sách Công vụ Tông đồ cho biết: “Khi tới Giêrusalem, ông Saolô tìm cách nhập đoàn với các môn đệ. Nhưng mọi người vẫn còn sợ ông, vì họ không tin ông là một môn đệ” (Cv 9:26). Đó là tâm lý chung, ai cũng sợ, nhất là Saolô (tức Phaolô) đã từng bách hại đạo Công giáo dữ dội. Thế nên, “ông Banaba liền đứng ra bảo lãnh đưa ông Saolô đến gặp các Tông Đồ, và tường thuật cho các ông nghe chuyện ông ấy được thấy Chúa hiện ra trên đường và phán dạy làm sao, cũng như việc ông ấy đã mạnh dạn rao giảng nhân danh Đức Giêsu tại Đa-mát thế nào” (Cv 9:27).

Từ đó, một Saolô-dữ-tợn-và-tội-lỗi đã biến thành một Phaolô-hiền-từ-và-nhân-đức, cùng với các Tông đồ đi lại hoạt động tại Giêrusalem. Ông mạnh dạn rao giảng nhân danh Chúa. Ông là dân trí thức nên ông thường đàm đạo và tranh luận với những người Do Thái theo văn hoá Hy Lạp. Thấy ông tranh luận về Chúa Giêsu một cách say sưa và chí lý, họ tìm cách giết ông. Các anh em biết thế, liền dẫn ông xuống Xê-da-rê và tiễn ông lên đường về Tác-xô. Hồi ấy, sau khi Chúa Giêsu phục sinh, trong khắp miền Giuđê, Galilê và Samari, “Hội Thánh được bình an, được xây dựng vững chắc và sống trong niềm kính sợ Chúa, và ngày một thêm đông, nhờ Thánh Thần nâng đỡ” (Cv 9:29).

Chúng ta, những người từ xa xăm nhưng được nhận biết và tin vào Chúa Giêsu Cứu Thế. Đó là hạnh phúc lớn lao, đó là chúng ta chịu ơn Ngài. Vì thế, chúng ta phải “dâng lời ca tụng Ngài” (Tv 22:26a), và phải hứa với Ngài: “Điều khấn nguyền, con xin giữ trọn trước mặt những ai kính sợ Ngài” (Tv 22:26b). Thật vậy:

Kẻ nghèo hèn được ăn uống thoả thuê

Người tìm Chúa sẽ dâng lời ca tụng

Cầu chúc họ mãi ngàn đời vui sống

Toàn thế giới nhớ lại và trở về

Cùng Đức Chúa là Thiên Chúa nhân từ

Mọi dân tộc phủ phục thờ lạy Chúa

(Tv 22:27-29)

Ngay cả “những kẻ ngủ yên trong lòng đất cũng sẽ đều bái lạy một mình Ngài” (Tv 22:30a), và “những ai trở về cát bụi sẽ cùng phủ phục trước Thánh Nhan” (Tv 22:30b). Còn chúng ta, những người được đón nhận làm con cái của Ngài, phải tự nhủ: “Nguyện sẽ sống cho Chúa, con cháu tôi sẽ phụng sự Ngài” (Tv 22:30c-31). Bổn phận và trách nhiệm của chúng ta không chỉ phải hết lòng tôn thờ Chúa, mà còn phải dạy cho con cái biết yêu mến Ngài, trung tín tôn thờ Ngài và nói cho người khác biết về Ngài.

Yêu mến Chúa không thể chỉ NÓI mà KHÔNG LÀM, như Thánh Gioan đã phân tích rất rõ: “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1 Ga 3:18). Học phải hành. Yêu ai thì phải quan tâm người đó. Nói chung, bất cứ điều gì cũng phải “ngôn hành song song”. Thánh Gioan nói tiếp: “Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa” (1 Ga 3:19). Thật vậy, “nếu lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Ngài biết hết mọi sự” (1 Ga 3:20). Người ta có thể nói dối nhau, thậm chí tự lừa dối mình, nhưng không ai có thể nói dối Thiên Chúa.

Nếu lòng chúng ta không cáo tội chúng ta, như vậy thật phúc cho chúng ta, và “chúng ta được mạnh dạn đến cùng Thiên Chúa”, để rồi “bất cứ điều gì chúng ta xin, chúng ta được Ngài ban cho” (1 Ga 3:22). Chúng ta xin và được ơn là vì chúng ta tuân giữ các điều răn của Ngài và làm những gì đẹp ý Ngài. Nói đi nói lại, nói xa nói gần, cả Mười Điều Răn cũng chỉ tóm gọn hai chữ Yêu Thương. Thánh Gioan nhắc: “Chúng ta phải tin vào danh Đức Giêsu Kitô, Con của Ngài, và phải yêu thương nhau, theo điều răn Ngài đã ban cho chúng ta” (1 Ga 3:23), rồi giải thích: “Ai tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, đó là nhờ Thần Khí Thiên Chúa đã ban cho chúng ta” (1 Ga 3:24).

Tất cả đều có tính liên đới. Liên đới cũng là một trong bốn điểm chính trong Giáo huấn Xã hội của Giáo hội Công giáo (thường gọi tắt là Giáo huấn Xã hội Công giáo). Chúa Giêsu cũng đã nhắc tới tính liên đới khi Ngài ví Ngài là Cây Nho, còn chúng ta là cành nho: “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn” (Ga 15:1-2). Đó là điều chắc chắn. Khoa học cũng đã chứng minh rằng, trong não bộ có những “rãnh chất xám” (chất giúp thông minh), ai lười động não thì các “nhánh chất xám” sẽ khô dần và giảm thông minh, nhưng ai chịu động não thì các “nhánh chất xám” sẽ sinh sôi và càng thông minh. Rất tự nhiên mà thật kỳ diệu! Đó cũng là sự liên đới.

Theo Chúa Giêsu, chúng ta “được thanh sạch nhờ lời Ngài đã nói với chúng ta” (x. Ga 15:3). Ngài căn dặn: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy” (Ga 15:4). Chúa Giêsu không ưa vòng vo, Ngài luôn nói thực tế, rõ ràng, giản dị và dễ hiểu.

Chúa Giêsu tái xác định: “Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15:5a), và Ngài hứa: “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái” (Ga 15:5b). Nhưng chúng ta có sinh hoa trái hoặc làm được gì thì cũng không bởi tài năng của chúng ta, đừng ảo tưởng, vì Chúa Giêsu đã nói: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5c). Ngược lại, Chúa Giêsu nói vế một: “Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi” (Ga 15:6). Chúa Giêsu không hù dọa mà Ngài chỉ nói theo nguyên lý liên đới. Rồi Ngài nói vế hai: “Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý” (Ga 15:7). Đó là sự cân bằng trong một phản ứng, giống như phản ứng hóa học vậy. Ngài kết luận: “Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy” (Ga 15:8).

Cây và cành luôn có tính liên đới chặt chẽ, đặc biệt đó là mối-liên-đới-yêu-thương. Theo triết lý của Thánh Phaolô, không ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô, dù đó là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo. Chính trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta: “Dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác,không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8:38-39).

Lạy Chúa, xin giúp chúng con can đảm trong mọi hoàn cảnh để đủ sức kiên tâm chịu đựng và quyết tâm theo Ngài đến cùng. Xin đừng để chúng con quá nghèo hoặc quá giàu, vì nghèo quá hoặc giàu quá thì chúng con cũng có thể xa Chúa. Xin thương xót và che chở chúng con như con ngươi trong mắt Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Tháng 5 : kính Đức Maria Apr 25
Ý chung: Cầu cho gia đình. Xin cho những sáng kiến nhằm bảo vệ và củng cố vai trò của gia đình được đề cao trong xã hội.

Ý truyền giáo: Đức Maria, hướng dẫn viên của các nhà truyền giáo. Xin cho Đức Maria Nữ vương vũ trụ và Ngôi sao sáng của việc truyền giáo đồng hành với mọi thừa sai trong việc công bố Chúa Giêsu Con Mẹ.

”k</p

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Mục tử đích thực Apr 24

(Chúa Nhật IV Phục Sinh, năm B)

Có lẽ chúng ta quá quen với câu: “Chúa là Mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” [Tv 22 (23):1]. Câu này diễn tả sự an tâm thanh thản, thế nhưng chúng ta có thực sự thấy an tâm?

Dù chúng ta chỉ là những con chiên lạc, chiên ghẻ, chiên quậy phá, chiên bướng bỉnh,… (x. Lc 15:4-7), nhưng Thiên Chúa quá đỗi yêu thương chúng ta và muốn chúng ta đồng hưởng vĩnh phúc với Ngài:“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Ngài sai Con Một đến thế gian không để luận phạt mà để giải thoát chúng ta: “Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Ngài mà được cứu độ (Ga 3:17). Ngài “không lên án” cũng đủ hạnh phúc đối với chúng ta rồi, thế mà Ngài còn muốn chúng ta “được cứu độ”. Hạnh phúc của chúng ta được nhân đôi. Đó là điều tích cực nơi Thiên Chúa.

Sách Công vụ Tông đồ kể: Bấy giờ, ông Phêrô được đầy Thánh Thần, liền nói với họ: “Thưa quý vị thủ lãnh trong dân và quý vị kỳ mục, hôm nay chúng tôi bị thẩm vấn về việc lành chúng tôi đã làm cho một người tàn tật, về cách thức người ấy đã được cứu chữa. Vậy xin tất cả quý vị và toàn dân Ít-ra-en biết cho rằng: nhân danh chính Đức Giêsu Kitô, người Nadarét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành mạnh ra đứng trước mặt quý vị” (Cv 4:8-10). Các tông đồ đã nhân danh Đức Kitô chữa lành bệnh tật cho người khác, điển hình là một người tàn tật được chữa lành và đang đứng trước mặt mọi người

Thánh Phêrô nói thêm: “Đấng ấy là tảng đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, chính tảng đá ấy lại trở nên đá tảng góc tường” (Cv 4:11; Tv 118:22). “Viên đá bị loại bỏ” lại hóa thành “viên đá nền tảng”, mà người loại bỏ viên đá đó là chính chúng ta. Thế mà Đức Kitô vẫn yêu thương và tìm kiếm chúng ta về hưởng hạnh phúc với Ngài. Thật quá kỳ diệu!

Đức Kitô là Đấng Thiên Sai, là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ, là Đấng-Gánh-Tội-Trần-Gian và là Đấng-Xóa-Tội-Trần-Gian. Thế nên, “ngoài Ngài ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4:12).

Vì thế, chúng ta phải hết lòng “tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:1 & 29). Thật vậy, tác giả Thánh vịnh xác định:

Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời

Thì hơn tin cậy ở người trần gian

Cậy vào thần thế vua quan

Chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời

Con xin cảm tạ Ơn Ngài

Vì đã đáp lời và cứu độ con

(Tv 118:8-9.21)

Thiên Chúa đã chuyển bại thành thắng, biến yếu thành mạnh, làm đồ bỏ thành đồ quý. Với loài người thì đành “bó tay”, nhưng với Thiên Chúa lại hoàn toàn khả thi (x. Mt 19:26). Đó là công trình kỳ diệu của Ngài trước mắt loài người! Chúng ta có một Vị Chúa như vậy thì sao lại không hạnh phúc và hãnh diện chứ? Và chắc chắn đó là sự tôn thờ chính đáng của chúng ta, không hề mơ hồ hoặc uổng phí.

Thánh sử Gioan nhắc chúng ta: “Anh chị em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Ngài yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thực sự chúng ta là con của Thiên Chúa” (1 Ga 3:1a). Chúng ta là những tội nhân khốn nạn, đáng trừng phạt muôn kiếp vẫn chưa đủ, vậy mà Thiên Chúa bắt Con của Ngài chết thay chúng ta, và tiếp tục nhận những tử-tội-chúng-ta làm “thiên tử”, thực sự là con-của-Trời chứ đâu phải các vua chúa hay quan quyền mới được làm thiên tử. Hơn cả tuyệt vời, vượt mức kỳ diệu, làm sao chúng ta có thể tưởng tượng nổi!

Thánh Gioan giải thích: “Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Ngài” (1 Ga 3:1b). Thế gian không nhận ra Chúa Giêsu là ai, không công nhận Ngài là Chúa, thế nên họ cũng không thể nhìn nhận chúng ta là con cái của Thiên Chúa, nói cho “oai” theo Hán-Việt là thiên tử. Thánh Gioan nói: “Hiện giờ chúng ta là con của Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng, khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Ngài, vì Ngài thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1 Ga 3:2). Câu này là niềm hy vọng cho mỗi chúng ta. Là con của người cha thì “con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh” và được ở trong nhà của người cha, là con của Thiên Chúa thì chắc chắn cũng được ở trong Nhà của Thiên Chúa – tức là Nước Trời, và cũng được giống Thiên Chúa.

Chúa Giêsu nói: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10:11). Đó là chân dung một vị mục tử đích thực. Ngài giải thích: “Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy (Ga 10:12a), do đó “sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên” (Ga 10:12b-13).

Vì thế, có lần Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Anh chị em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiênmà đến với anh chị em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi. Cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai” (Mt 7:15-16). Xem trái biết cây, đơn giản mà thâm thúy, như người Việt Nam cũng có ý tương tự: “Rau nào sâu nấy”.

Chúa Giêsu cũng đã xác định Ngài là “Cửa của chuồng chiên” (Ga 10:7 & 9). Và Ngài nói: “Ai qua Tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ”. Đồng thời Ngài cũng nhận định để “lưu ý” các ngôn-sứ-giả: “Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ” (Ga 10:10a), và nói về chính Ngài: “Phần Tôi, Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào(Ga 10:10b).

Trong Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu 2 lần xác định: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành” (Ga 10:11 & 14a). Tại sao? Chúa Giêsu giải thích một đặc điểm khác của vị mục-tử-đích-thực: “Tôi biết chiên của Tôi, và chiên của Tôi biết Tôi” (Ga 10:14b). Chủ chiên luôn biết rõ từng con chiên, người chăn chiên thuê thì chiên nào ra sao cũng mặc kệ! Ngài so sánh rất thực tế và dễ hiểu: “Như Chúa Cha biết Tôi, và Tôi biết Chúa Cha, và Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10:15). Thậm chí Ngài còn nói: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng Tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” (Ga 10:16).

Đọc từng câu và để ý từng chữ trong Phúc âm hôm nay, chúng ta như uống từng giọt-mật-ngọt-ngào, và rồi có thể vừa thú vị vừa thấm thía nhiều điều.

Chúa Giêsu quả quyết: “Mạng sống của Tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính Tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10:18a). Tại sao? Ngài cho biết lý do: “Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha Tôi mà Tôi đã nhận được” (Ga 10:18b). Chúa của chúng ta như vậy nên hạnh phúc của chúng ta phải tính theo cấp số nhân!

Lạy Chúa, xin muôn vàn tạ ơn Ngài đã tha thứ và tái nhận chúng con làm con cái của Ngài, đồng thời là tiểu đệ và tiểu muội của Đại huynh Giêsu. Xin Chúa luôn ban cho Giáo hội có những tâm hồn quảng đại biết dấn thân trong chức linh mục, trở thành tu sĩ, trở thành những tông đồ đích thực tiếp nối sứ vụ của Đức Giêsu Kitô, hôm nay và mãi đến tận thế. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
5 cách sống đức tin khi bị căm ghét và xáo trộn Apr 20
5 cách sống đức tin khi bị căm ghét và xáo trộn

Tin là chấp nhận hoặc từ chối. “Người tin thì không cần giải thích, người không tin thì giải thích cũng vô ích!” (Thánh Bernadette, Lộ Đức).

Nữ tác giả Brianna Heldt

Mới đây tôi có nói với một người bạn rằng tôi đã đã suy nghĩ nhiều, cứ suy đi nghĩ lại, chưa bao giờ tôi như vậy.  Cô bạn tôi nói về cách mà Thiên Chúa cho mỗi người chúng ta hiện diện ở đây, vào thời điểm đặc biệt đó và đặt vào lịch sử, vì một mục đích. Chúng ta không sinh trong thập niên 1800, cũng không ở đâu đó trong cuộc chiến thành Troa (Trojan War). Hiện nay chúng ta ở đây và lúc này.

Càng nghĩ về điều đó tôi càng thấy đây thực sự là điều thâm sâu – trước đây tôi chưa bao giờ thấy mình hiện hữu trong ý nghĩa này.

Sau đó tôi cũng nghĩ về cách mà chúng ta sống trong một kỷ nguyên của thuyết tương đối về luân lý, con người trở thành làn chớp và cách nhìn về tôn giáo đang thay đổi. Bạn có thấy bìa tuần báo Newsweek dịp lễ Phục sinh 2012? Hoặc nếu bạn sống ở Denver (Hoa Kỳ), sự lan rộng sẽ thế nào trong năm 5280? Ái chà! Rồi chỉ mới đêm qua, có một cuộc họp tại thành phố của tôi để thảo luận xem trường trung học có được phép phổ biến biện pháp tránh thai cho học sinh hay không (dĩ nhiên không cần cha mẹ cho phép).

Làm sao giải thích đức tin của mình rạch ròi trong thế giới ngày nay? Vì không ngẫu nhiên mà bạn hiện hữu ở đây, còn tôi ở đó. Không gì lạ khi văn hóa của chúng ta đang càng ngày càng trở thành “hậu Kitô giáo”, và càng ngày càng ít chấp nhận quan niệm của Kitô giáo Do Thái truyền thống. Thế nên chúng ta thực sự không nên hy vọng điều gì khác – cũng không nên ngạc nhiên – khi các Kitô hữu bị “gắn mác” là cố chấp và mê tín vì bảo thủ ý kiến.

Hiện nay đa số chúng ta không tích cực cho lắm về lĩnh vực chính trị, cũng chẳng muốn bày tỏ chính kiến. Nhưng chúng ta vẫn đi làm, đi mua sắm, vui chơi, và ăn uống với bạn bè. Đây là những cơ hội để bày tỏ mình có muốn hay không.

Theo tôi, có 5 cách thực tế để bày tỏ đức tin.  Không phải luôn dễ thực hiện với một thế giới không hiểu bạn, nhưng bây giờ là lúc cần áp dụng.

1. Sống ơn gọi. Tôi chia sẻ ở đây về việc đưa ra những hình ảnh của một phụ nữ sống hạnh phúc với ơn gọi của mình. Vì tôi thực sự tin rằng có một điều mà thế giới cần, đó là những phụ nữ vui vẻ sống được làm nữ giới. Tôi giao tiếp cái gì với thế giới khi tôi la rầy con cái, tức giận và khổ sở vì điều gì đó? Có thể có điều gì đó rất khác vời những gì tôi giao tiếp khi tôi vui cười với con cái hoặc chỉ đơn giản là ngồi tĩnh lặng. Kế hoạch của Thiên Chúa dành cho nữ giới và người mẹ là điều tốt đẹp và tự do – ngay cả trong sự hỗn độn và nước mắt. Thế giới của chúng ta không muốn thấy điều đó. Đây là lý do mà tôi cố gắng trang điểm và ăn mặc khi tôi đi đâu đó với 7 đứa con của tôi. Chúng ta khả dĩ phát triển khi chúng ta sống ơn gọi của mình.

2. Xuất hiện.Trước đây tôi chưa bao giờ thấy cái đó? Có vẻ nói vậy là chuyện dĩ nhiên, nhưng đôi khi chỉ là người mà chúng ta là cũng đủ là điều kỳ diệu. Đó có thể là một thách đố, nhưng tôi không cố gắng hối tiếc về việc có nhiều con, là người Công giáo, về việc phản đối ngừa thai, về việc chấp nhận là giỏi giang (bee’s knees), hoặc về các giá trị truyền thống đã cũ rích và lỗi thời (ôi, khiếp quá!). Tôi thường tâm sự khi tôi có chuyện gì, và dù tôi không đưa ra các ý kiến của tôi, tôi cũng vẫn cố gắng là chính tôi.

3. Ấp ủ cuộc sống.Chúa Giêsu đến ban cho chúng ta sự sống dồi dào, nếu điều đó không gợi hứng thì tôi chẳng biết đó là gì. Dù là ai hoặc ở đâu, chúng ta vẫn có thể cho phép mình cởi mở với cuộc đời trong mọi hình thức. Bằng cách nào? Chúng ta có thể nhìn con cái là kết quả của tình yêu trong hôn nhân. Chúng ta có thể tình nguyện đi khám thai, và chờ đợi đứa con sinh ra (dù sinh một hoặc sinh đôi, sinh bốn,…), hoặc phấn khởi vì thấy một phụ nữ sinh con. Chúng ta có thể yêu thương mọi người xung quanh mình bằng nhiều cách – có thể là khó lắm! Văn hóa sự sống là văn hóa tình thương, và ngược lại.

4. Yêu sự thật.Tôi biết mình đang đi trên vùng đất có mìn khi tôi đề nghị những điều như vậy. Chúng ta sống trong một xã hội cho rằng cái gì thật với mình mới là thật, và cái gì thật với tôi mới là thật – mặc dù đó là những đòi hỏi lẫn nhau không thể chấp nhận. Tuy nhiên, tôi thuộc về niềm tin mà Thiên Chúa đã tỏ chính Ngài cho chúng ta. Có một số điều thật và một số điều sai, nhưng vẫn có sắc thái. Vâng, có sự thất vọng, có bóng tối ảm đạm. Nhưng luôn có khoảng bao la chứa Lòng Thương Xót của Chúa ngay trong những đau khổ và tuyệt vọng của chúng ta. Cuộc đời chúng ta tươi đẹp biết bao nếu chúng ta thực sự bám vào chân lý, nếu chúng ta theo sau Đức Giêsu bằng sự tuân phục tận đáy lòng, đồng thời đắm mình vào Kinh thánh, những sách đạo đức, những lời cầu nguyện và những mối quan hệ có sức nuôi dưỡng đức tin.

5. Đừng sợ!Chúa Giêsu đã nhiều lần nói vậy, và Chân phước GH Gioan Phaolô II cũng đã nhắc nhở điều đó. Điều đó có thể đe dọa chúng ta khi chúng ta bảo vệ đức tin chứ không a dua theo đám đông phản đối. Cứ sống, chúng ta có thể trở nên nhân chứng sống động của các giá trị tôn giáo, giá trị đích thực của đức tin. Người ta muốn biết bạn làm điều này hoặc tin điều đó, nhưng chúng ta có thể tin rằng nếu chúng ta độ lượng, tử tế, chân thật và hòa nhã, chúng ta có thể khiêm nhường nhưng lại cho họ câu trả lời về niềm hy vọng mà chúng ta đã tìm ra. Cần phải can đảm, nhưng có thể đó là lý do mà Thiên Chúa đặt bạn ở đây, ngay bây giờ.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ New Advent)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Ai là bổn mạng các game thủ ? Apr 20

Tác giả Thomas L. McDonald

Xin trả lời ngay và ngắn gọn: “Chẳng có ai cả”. Tuy nhiên, khi tìm những câu hỏi khác nhau đã đưa nhiều người đến với blog trò chơi của tôi, có thể vì thanh bên cạnh (sidebar) có hình Thánh Balthasar, bổn mạng những nhà sản xuất các lá bài. Từ khi đọc lịch sử Giáo hội và có bộ sưu tập tiểu sử các thánh, tôi nghĩ tôi phân loại như thế để người ta không lang thang trên internet tìm những thông tin không chính xác về các thánh, về bổn mạng, về trò chơi, và về các vấn đề có liên quan.

Hóa ra đó là bài phổ biến quan trọng, thế nên tôi đọc lại và cập nhật hóa điều đó vì Thiên Chúa. Đây là một số đề nghị của các độc giả:

Thánh Balthasar

Thánh Balthasar thường được coi là “bổn mạng của những nhà sản xuất các lá bài”. Tôi đã dạy các học sinh nhiều năm, tôi phải nói với bạn rằng đó là một trong những điều kỳ diệu nhất mà tôi đã phát hiện. Tôi đã tìm hiểu sâu xa để nghĩ ra cách thức và lý do mà Thánh Balthasar “gắn liền” với những lá bài hoặc việc chơi bài, nhưng lại gắn liền với những nhà sản xuất các lá bài.

Thánh Balthasar, cùng với Thánh Melchior và Thánh Caspar, là một trong các đạo sĩ đã dâng vàng, nhũ hương và mộc dược cho Chúa Giêsu. Tuy nhiên, Kinh thánh không nói tên các đạo sĩ này, không nói có mấy người (thường nói có 3 người vì chỉ có 3 lễ vật, nhưngmột số nguồn cổ nói có 12 người), và cũng không nói họ là ai (chiêm tinh gia, thuật sĩ, vua, hoặc đơn giản là “những người khôn ngoan”. Mãi tới thế kỷ V, tên của 3 vị này mới được biết đến.

Chúng ta không biết gì khác về Thánh Balthasar. Có vài ngôi mộ được coi là của ba đạo sĩ này, nhưng không ai dám chắc chắn. Nếu có nguồn hoặc tài liệu nào đó giải thích lý do Thánh Balthasar được coi là người “quan tâm” những người đánh bài, thì điều này vượt ngoài tầm hiểu biết của tôi. Những lá bài đầu tiên chỉ được in hoặc các nghệ sĩ làm ra.

Thiếu chứng cớ giải thích việc đánh bài có liên quan Thánh Balthasar, lý do rõ ràng nhất có thể là câu trả lời thực tế. Thánh Balthasar là một “ông vua” (king), vì bộ bài có những “quân già” (kings). Như vậy, tự nhiên chọn một trong 3 quân già, thế là Thánh Balthasar “bị chết tên”.

Thánh Cajetan

Thánh Cajetan (tiếng Tây Ban Nha là Cayetano) là bổn mạng dân đánh bạc. Thánh Cajetan sinh năm 1480 trong một gia đình giàu có, ngài là luật sư. Ước muốn cải cách Giáo hội, ngài đi Rôma, rồi làm linh mục, và lập dòng. Ngài dùng tài sản của gia đình để mở các bệnh viện phục vụ nhu cầu tâm linh và thể lý của người nghèo. Ngài cũng mở các tiệm cầm đồ và thẻ tín dụng để người nghèo vay vốn.

Thánh Cajetan có liên quan việc đánh bài rất mơ hồ. Truyền thuyết cho rằng người ta xin ngài ủng hộ, và “đặt cược” với ngài một xâu chuỗi mà ngài không thể hiểu. Từ khi ngài hiểu ra, ngài có thể làm người ta cầu nguyện nhiều hơn. Dựa vào những gì chúng ta biết về các thánh, điều này có vẻ như việc trang bị thêm về lòng đạo đức của lý do nói ngài là bổn mạng người đánh bài, và nghe chừng không ổn chút nào.

Rất có thể là số tiền vay đã giúp người ta khỏi bị ăn lời cắt cổ (predatory interest rates), và nhiều món tiền này là hậu quả của nợ đánh bài. Lúc đó, cũng như ngày nay, một tay có máu chơi bài có thể làm tan nát gia đình, cho nên có vẻ như Thánh Cajetan có thể “gỡ gạc” cho mấy tay chơi bài trở về đường ngay nẻo chính cả về tài chính lẫn luân lý.

Thánh Aloysiô Gonzaga

Một độc giả khác là Mark Franceschini nói thế này: “Tôi luôn đề xuất Thánh Aloysius Gonzaga (1568–1591), dựa vào truyện mà tôi đã đọc. Ngài chơi cờ với một số chủng sinh, và có người hỏi: “Ngài sẽ làm gì nếu biết chỉ còn sống một giờ nữa?”. Có người nói sẽ đi xưng tội, người khác nói sẽ cầu nguyện trước Thánh Thể, nhưng Thánh Aloysiô Gonzaga thì không. Ngài lý luận rằng vì các Bề trên cho phép chơi nên ngài không có trách nhiệm nào khác, rõ ràng đây là điều Thiên Chúa muốn ngài làm. Như vậy, trong giờ sau hết, ngài sẽ chơi cho xong ván cờ! Vậy với tôi, Thánh Aloysiô Gonzaga là bổn mạng các game thủ là hợp lý!”.

Thánh Matthia Tông đồ

Một độc giả khác nói rằng Thánh Matthia nên đưa vào danh sách vì ngài được chọn để thay thế Giuđa bằng cách rút thăm, như trong Cv 1:23-26: “Họ đề cử hai người: ông Giôxếp, biệt danh là Basaba, cũng gọi là Giúttô, và ông Matthia. Họ cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, chính Chúa thấu suốt lòng mọi người; giữa hai người này, xin chỉ cho thấy Chúa chọn ai để nhận chỗ trong sứ vụ Tông Đồ, chỗ Giuđa đã bỏ để đi về nơi dành cho ông”. Họ rút thăm trúng ông Matthia: ông được kể thêm vào số mười một Tông Đồ”.

Vâng, họ chọn người thay người phản bội Chúa Giêsu bằng cách tung hột xúc xắc.

Mà cũng có thể không là hột xúc xắc, dù họ có thể có hột xúc xắc, vì hột xúc xắc đã có ít nhất từ 5.000 năm trước, và hột xúc xắc đã được dùng ở Hy Lạp cổ đại và Rôma. Rút thăm là cách phổ biến tìm Ý Chúa trong Do Thái giáo (Judaism), với một trưởng tư tế rút ra một trong hai hòn đá thánh từ chiếc giáp che ngực (breastplate) để trả lời cho câu hỏi đôi (binary question). Đây là Urim Thummim. Người ta có thể tìm thấy một số ví dụ của việc rút thăm trong sách Sử biên niên, chương 24 và 26, dĩ nhiên có cả trong sách Giôna và sách Ét-te. “Purim” là tiếng Do Thái cổ nghĩa là “rút thăm”, cũng như tên của “ngày thánh” (thánh nhật) của người Do Thái để tưởng nhớ các sự kiện của Ét-te.

Vấn đề là Thánh Matthia không còn dấu vết sau đó. Có thể do vị trí tông đồ thứ 12 bị nguyền rủa. Có thể ngài bị đóng đinh ở Ethiopia, bị ném đá ở Giêrusalem, hoặc qua đời vì cao niên. Không thể chết vì lớn tuổi: Ít các vị lãnh đạo Kitô giáo thời sơ khai đều chết an bình trên giường. Trong số 12 Tông đồ, chỉ có Thánh Gioan qua đời theo cách tự nhiên.

Thánh Matthia là bổn mạng những người uống rượu, thợ mộc, thợ may và… thành phố Gary của Ấn Độ.

Vĩ ngôn

Cuối cùng, chúng ta vẫn còn vài sự kiện và không có thánh bổn mạng của các game thủ. Tuy nhiên, tôi nghĩ Thánh Cajetan “đủ tiêu chuẩn” nhất. Ngài có mối liên quan nào đó với việc chơi trò chơi, điều này có thể là yếu tố của việc chơi trò chơi. Nhưng ngài cũng có những mối liên quan với ngân hàng, điều này được tái tạo trong nhiều trò chơi. Ngài đã dùng tài sản của mình để giúp đỡ người khác, và có ý nghĩa sâu xa của lòng trắc ẩn. Ngài đã chống lại sự đồi trụy của các giáo sĩ thời của ngài bằng cách sống gương mẫu về đức ái Kitô giáo và quan tâm người nghèo, đồng thời là người tốt.

Vì thiếu một “ứng viên” hợp lý, tôi muốn chọn Thánh Cajetan là bổn mạng các game thủ.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Patheos.com)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
10 điều hiểu lầm về Công giáo Apr 19

Tác giả J.Q.TOMANEX
Khoảng 4 năm tôi dạy học ở một trường trung học Công giáo và đã nghe những câu hỏi về đức tin. Tôi nghĩ mình đã nghe mọi kịch bản về luân lý với bất kỳ chủ đề nào, những sai lầm về thần học, và thậm chí cả những hiểu lầm về lịch sử. Đây là q0 điều hiểu lầm nhiều nhất về đức tin:
1. Vô nhiễm Nguyên tội: Tôi thường nghe học sinh thuyết phục tôi rằng Vô nhiễm Nguyên tội là nói về Chúa Giêsu. Dĩ nhiên, khi tôi giải thích đó là nói về Đức Mẹ thì vấn đề càng “nóng” hơn.
2. Luyện hình: Luyện hình là cơ hội thứ hai để một người có thể sống trong tội lỗi và luôn sám hối trong luyện hình mà đôi khi người ta tin như vậy. Tôi thường nói với học sinh thế này:“Đó là một loại như Gladiator, những gì bạn làm ở đây âm vang mãi mãi”. Cách sống của chúng ta hiện nay là cách chúng ta muốn sống mãi mãi.
3. Tiêu hôn và ly hôn: “Tiêu hôn tương tự là Công giáo”. Không đúng. Người này tuyên bố kết hợp đã không hiện hữu đúng ngay từ đầu và người kia nghĩ nó tách rời sự kết hợp.
4. Kế hoạch hóa tự nhiên và nhân tạo: Tương tự số 3, nhưng trong trường hợp này nó có nghĩa rất khác và hoàn toàn dị biệt.
5. Nam giới và chức linh mục: Tại sao phụ nữ muốn làm linh mục? Hãy nghĩ về điều này. Có bản sao nữ của các linh mục gọi là “nữ linh mục”. Không phải Giáo hội sẽ cho phép có nữ linh mục, nhưng ít nhất hãy nói thẳng nếu bạn muốn tranh luận về điểm này. Vậy thì cũng như nói: “Tôi nghĩ đàn ông nên mang thai”.
6. Tội lỗi và tội nhân: Là giáo viên, tôi luôn phải dàn xếp vấn đề này khi tôi dạy về vấn đề luân lý, tôi chưa bao giờ xét đoán ai và tạ ơn Chúa là đúng, tôi không bao giờ muốn làm việc đó. Tuy nhiên, một hành động có thể bị xét đoán, trách nhiệm giải trình cá nhân thuộc ý muốn tự do và sự hiểu biết của người đó mà cả hai phải về tội luân lý đã phạm.
7. Trường hợp “khó khăn”: Tôi rất thường nghe các học sinh 16 tuổi nghĩ rằng chúng được tự do và là người Công giáo bằng cách giữ cách thỏa hiệp nguy hiểm: “Tôi ủng hộ sự sống trừ trường hợp bị hiếp dâm, loạn luân, và sức khỏe người mẹ”. Đừng nói tôi sai, những người này xác định những trường hợp “khó khăn” khi vác Thánh giá, nhưng như vậy người khác có đáng sống không?
8. Hành xác: Điều này luôn khôi hài đối với tôi. Tôi là vận động viên ở trường trung học và luôn biết mình phải tập luyện và giữ sức khỏe tốt. Phải thể hiện tốt ở cuộc thi đấu, vậy là không thực tế. Hành xác là cách tập luyện tinh thần. Chú lý: Tôi không nói là tôi giỏi điều đó.
9. Thập tự quân và Tòa án tôn giáo (Inquisition): Vâng, tôi chắc rằng có quá nhiều hành động bất công xảy ra trong Thập tự quân (Crusades) nhưng vẫn cần có thông tin đúng. Các cơ quan hợp pháp là để bảo vệ người vô tội chứ không bắt người ta theo Công giáo. Tòa án Tôn giáo đã cố gắng loại trừ dị giáo và đa số đã hoàn thành tốt. “Người dị giáo” cũng thường hiểu lầm; Giáo lý Giáo hội Công giáo nói trong đoạn ở số 2089: “Tính hoài nghi là khinh suất sự thật đã được mặc khải hoặc cố ý không chịu tán thành. ‘Dị giáo là sau khi chịu Phép Rửa mà sự ngoan cố từ chối chân lý nào đó đáng lẽ phải tin bằng đức tin của Chúa và Công giáo, hoặc là người đa nghi ngoan cố; sự bội giáo là hoàn toàn bác bỏ đức tin Kitô giáo; sự ly giáo là khước từ tuân phục giáo hội Rôma hoặc không hiệp thông với các thành viên của Giáo hội tuân phục ngài”. Cũng chú ý rằng, người dị giáo là người phản đối đức tin và xảy ra sau khi đã được rửa tội.
10. Bác học Galilê: Nhiều người hiểu sai vấn đề này: Tính nhật tâm (heliocentricity) thực sự không thật, mặt trời không là trung tâm của vũ trụ. Bác học Galilê và giáo hội thời đó đã gặp khó khăn trong quan hệ riêng, do đó mỗi người hiểu theo cách của mình. Lúc đó bác học Galilê không thể chứng tỏ cách của mình. Và còn nhiều chuyện như vậy. Nhưng rồi bác học Galilê đã được an táng tại Thánh đường Thánh nữ Croce (Basillica di Santa Croce), thuộc Florence.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ ignitumtoday.com)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Nhãn tiền Apr 19

(Chúa Nhật III Phục Sinh, Năm B)

Chúng ta vừa mừng Đại lễ Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) vào Chúa Nhật tuần trước – Chúa Nhật II Phục Sinh. LCTX luôn được nhắc đến suốt năm Phụng vụ, đặc biệt vào Mùa Phục Sinh. Ngay từ thuở hồng hoang, thuở khai thiên lập địa, Kinh thánh đã nói đến lòng yêu thương:

– Này, tôi tớ ngài đây đã được đẹp lòng ngài, và ngài đã tỏ lòng thương lớn lao của ngài đối với tôi khi để cho tôi sống. Nhưng tôi không trốn lên núi được đâu, tai ương sẽ đuổi kịp, và tôi chết mất! (St 19:19);

– Xin mời ông, con sẽ cho cả lạc đà của ông uống nữa”, thì đó là người Chúa đã xe duyên cho tôi tớ Chúa là I-xa-ác; cứ đó, con sẽ biết rằng Chúa đã tỏ tình thương đối với chủ con (St 24:14);

– Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa của ông Áp-ra-ham, chủ tôi, đã không ngừng tỏ tình thương và lòng thành tín của Người đối với chủ tôi; còn tôi, Đức Chúa đã dẫn dắt tôi trên đường đến nhà anh em họ hàng của chủ tôi (St 24:27);

– Tôi đã nhìn thấy mặt ngài như nhìn thấy mặt Thiên Chúa, và ngài đã tỏ lòng thương với tôi (St 33:10).

Đạo (của) Chúa là Đạo Yêu thương, vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4::8 & 16). Yêu thương, tình thương, tình yêu, hoặc lòng thương đều là một. Cách gọi khác theo ngôn ngữ, nhưng thực chất vẫn là Lòng Chúa Thương Xót. Ngay trong Việt ngữ cũng không thống nhất, khi thì Lòng Thương Xót Chúa, khi thì Lòng Chúa Thương Xót. Khi chúng ta nói “Lòng Thương Xót Chúa” tức là “Lòng Thương Xót của Chúa”. Thực ra vẫn giống nhau, chỉ vì Việt ngữ không rõ ràng do “rút gọn” văn phạm, và dễ gây hiểu lầm!

TỘI LỖI NHÃN TIỀN

Thánh Phêrô nói: “Thiên Chúa của các tổ phụ Ápraham, Isaác và Giacóp, Thiên Chúa của cha ông chúng ta, đã tôn vinh Tôi Trung của Ngài là Đức Giêsu, Đấng mà chính anh chị em đã nộp và chối bỏ trước mặt quan Philatô, dù quan ấy xét là phải tha. Anh chị em đã chối bỏ Đấng Thánh và Đấng Công Chính, mà lại xin ân xá cho một tên sát nhân. Anh chị em đã giết Đấng khơi nguồn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Ngài trỗi dậy từ cõi chết” (Cv 3:13-15). Chúng ta thật khốn nạn, dám “giao nộp” Chúa Giêsu, dám “chối bỏ” Ngài, dù biết rõ Ngài là “Đấng Thánh”, là “Đấng Công Chính”, là “Đấng khơi nguồn sống”.

Giáo hoàng tiên khởi đã có “kinh nghiệm đau thương” về việc này nên kêu gọi: “Thưa anh chị em, giờ đây tôi biết anh chị em đã hành động vì không hiểu biết, cũng như các thủ lãnh của anh chị em. Nhưng, như vậy là Thiên Chúa đã thực hiện những điều Ngài dùng miệng tất cả các ngôn sứ mà báo trước, đó là: Đấng Kitô của Ngài phải chịu khổ hình. Vậy anh chị em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa, để Ngài xoá bỏ tội lỗi cho anh em” (Cv 3:17-19).

Ngày xưa, có thể dân Do Thái hành động vì thiếu hiểu biết, vì họ quá bất ngờ và quá bị “sốc” khi nghe chàng-thanh-niên-con-bác-thợ-mộc nói là Con Thiên Chúa, “khó nghe” thật! Nhưng ngày nay, chúng ta không thể biện minh là chúng ta không hiểu biết.

Nếu thực sự không thể tự biện hộ, thực sự biết mình đã và đang phạm nhiều tội lỗi nhãn tiền thì chúng ta phải biết sám hối, trở lại, và khẩn cầu LCTX: “Lạy Thiên Chúa là đèn trời soi xét, khi con kêu, nguyện Chúa đáp lời. Lúc ngặt nghèo, Chúa đã mở lối thoát cho con, xin thương xót nghe lời con cầu khẩn” (Tv 4:2). Chúng ta phải biết rằng Chúa biệt đãi người hiếu trung với Ngài; khi kêu cầu thì Ngãi Chúa luôn nghe lời. Biết bao kẻ từng thắc mắc: “Ai sẽ cho ta thấy hạnh phúc?” (Tv 4:7a). Trong câu hỏi đó đạ mặc nhiên có câu trả lời, nghĩa là không ai khác, không một thần linh nào khác ngoài Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta càng phải kêu cầu: “Lạy Chúa, xin toả ánh Tôn Nhan Ngài trên chúng con” (Tv 4:7b).

HỒNG ÂN NHÃN TIỀN

Chúa luôn ban vô vàn hồng ân hằng ngày. Đơn giản nhất mà lại cần nhất là không khí – thiếu không khí vài phút là chúng ta chết ngay! Mọi người, không trừ ai, đều đã và đang nhận lãnh hồng ân của Thiên Chúa – dù chúng ta chưa hề mở lời xin Ngài.

Thánh Gioan khuyên chúng ta “đừng phạm tội”, và “láy” một câu: “Nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha: đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính” (1 Ga 2:1). Quá tuyệt vời! Chắc chắn chúng ta đều là những tội nhân khốn nạn, nhưng chúng ta lại vô cùng may mắn có Chúa Giêsu là luật sư biện hộ cho chúng ta trước Tòa Án Công Lý của Chúa Cha. Hơn nữa, “chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Ga 2:2). Nhận xét của Thánh Gioan rất “ăn khớp” với lời khẩn cầu trong Chuỗi LCTX: “Lạy Cha hằng hữu, con xin dâng lên Cha Mình và Máu, linh hồn và thần tính của Con rất yêu dấu Cha, là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, để đền vì tội lỗi chúng con và toàn thế giới”.

Nếu chúng ta tuân giữ các điều răn của Ngài, chúng ta nhận ra mình là những người biết Thiên Chúa. Nhưng “ai nói mình biết Ngài mà không tuân giữ các điều răn của Ngài, đó là kẻ nói dối, và Sự Thật không ở nơi người ấy” (1 Ga 2:4). Ngược lại, “ai giữ lời Ngài dạy, nơi kẻ ấy tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo” (1 Ga 2:5). Tình yêu và bổn phận luôn có mối quan hệ chặt chẽ.

Sau khi hai môn đệ nhận ra Sư phụ Giêsu trên đường Emmau khi Ngài bẻ bánh, họ thuật lại chuyện đã xảy cho các môn đệ khác biết. Các ông còn đang bàn tán thì chính Đức Giêsu hiện ra đứng giữa họ và bảo: “Bình an cho anh em!” (Lc 24:36). Thế nhưng các ông kinh hồn bạt vía, hồn xiêu phách lạc tưởng là thấy ma. Nhưng Ngài nói: “Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?” (Lc 24:38-39). Lời-chúc-bình-an đó là Chúa Giêsu đã trao ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ lúc đó và chúng ta ngày nay.

Nói xong, để các môn đệ thấy nhãn tiền, Ngài đưa tay chân ra cho các ông xem. Ấy thế mà họ còn chưa tin, phần vì mừng quá đỗi, phần vì quá ngỡ ngàng. Mừng vì Thầy đã sống lại thật chứ không bị bọn ma mãnh lấy mất xác Thầy, mừng vì hai môn đệ kia (gặp Chúa trên đường Emmau) nói thật chứ không… “xạo”. Và để cho “chắc cú”, Ngài hỏi: “Ở đây anh em có gì ăn không?” (Lc 24:43). Các ông đưa cho Ngài một khúc cá nướng thơm phức, thế là Ngài cầm lấy và ăn ngon lành trước mặt họ. Ôi, Sư phụ Giêsu thật chứ không phải tay nào khác giả dạng. Trên cả tuyệt vời luôn!

Ăn cá xong, Ngài giải thích: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Môsê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm” (Lc 24:44). Vâng, Thánh Ý Chúa quá mầu nhiệm, vượt xa tầm hiểu biết của nhân loại – dù là những bậc thông thái. Bấy giờ, chính Ngài mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh và Ngài nói: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Ngài mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” (Lc 24:46-47).

Ngài biết chúng ta luôn yếu đuối, luôn sai phạm, nên Ngài luôn nhấn mạnh động thái “sám hối” và “tín thác”. Có hai điều đó thì LCTX luôn đổ tràn trên chúng ta. Và Ngài xác định bổn phận được trao cho chúng ta: “Chính anh em là chứng nhân về những điều này” (Lc 24:48).

Cuối cùng, Chúa Giêsu vừa hứa vừa dặn dò: “Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống” (Lc 24:49). Lời hứa đó đã, đang và sẽ được Ngài thực hiện cho nhân loại chúng ta.

Lạy Chúa, xin thêm đức tin cho chúng con, xin luôn ban Thần Khí Chúa cho chúng con để chúng con can đảm làm chứng về LCTX và Đức Kitô phục sinh, hôm nay và mãi đến hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Hội thánh Thánh nhạc Toàn quốc XXX Apr 18

Lúc 8 giờ 15 ngày 17-4-2012, buổi Hội thảo Thánh nhạc Toàn quốc lần thứ 30 đã diễn ra tại Hội trường P.X. Nguyễn Văn Thuận, thuộc Trung tâm Mục vụ TGP Saigon (6 Bis Tôn Đức Tháng, P. Bến Nghé, TPHCM).

Chủ tịch đoàn là ĐGM Vincent Nguyễn Văn Bản (Giám mục GP Ban Mê Thuột, đặc trách UB Thánh nhạc trực thuộc HĐGM ViệtNam), và LmNs Roch Nguyễn Duy (Tổng thư ký Ủy ban Thánh nhạc toàn quốc – UBTNTQ),

Hiện diện tại buổi hội thảo có Ban thường vụ UBTNTQ, các linh mục đặc trách Thánh nhạc của 7 chủng viện, các trưởng Ban Thánh nhạc của 26 giáo phận, các nhạc sĩ, các ca trưởng, tổng cộng có gần 100 tham dự viên. Trong đó có các Nhạc sĩ “gạo cội” như LmNs Phêrô Kim Long, LmNs Gioan Nguyễn Văn Minh,…

8 giờ 30, LmNs Roch Nguyễn Duy nói về văn bản Hướng dẫn Mục vụ Thánh nhạc. 9 giờ tới 10 giờ 30, các tham dự viên được chia thành 3 tổ thảo luận về những vấn đề liên quan Thánh nhạc: Mục vụ Thánh nhạc, bản văn Phụng vụ, sáng tác Thánh ca, cách hát, cách chọn bài phù hợp phụng vụ,…

Các hội thảo viên đã đưa ra nhiều góp ý, chẳng hạn:

– Trong việc thúc đẩy, quan tâm và nhắc nhở lại chỉ nhắc đến các cha xứ mà không nhắc đến các Bề trên của các tu viện.

– Nên khuyến khích các ca trưởng học hỏi về Phụng vụ và chuyên môn (xướng âm, hòa âm, điều khiển,…), nhờ đó có thể chọn bài cho phù hợp Phụng vụ và giúp ca đoàn hát hay để giúp cộng đoàn nâng tâm hồn lên tới Chúa. Có thể “trả lương” để khuyến khích ca trưởng hoạt động ca đoàn cho hiệu quả, vì ca trưởng phải hy sinh nhiều…

– Nên “trao giải” cho các bài Thánh ca hay để khuyến khích nhạc sĩ sáng tác.

– Nên dùng bản văn Kinh thánh của Lm Giuse Nguyễn Thế Thuấn (DCCT, 1922-1975) hay của Nhóm Phiên dịch các Giờ kinh? Vì có “đụng chạm” vấn đề tác quyền.

– Đáp ca nên được soạn nhạc và được hát những bài Thánh ca được soạn nhạc theo sát bản văn Phụng vụ.

Sau khi giải lao 15 phút, mọi người tiếp tục hội thảo. LM Roch Nguyễn Duy nói rằng đôi khi rất “khó” trong việc hướng dẫn Thánh nhạc, vì có linh mục khi còn học ở chủng viện thì “ngoan ngoãn” vâng lời, nhưng mới làm linh mục được vài năm thì như “cha toàn năng”, như “đấng toàn quyền”, không chịu nghe ai. Có những ca đoàn hát rất hoành tráng nhưng hoàn toàn sai Phụng vụ.

Lm Ns Phêrô Trương Huy Hoàng, trưởng Ban Thánh nhạc GP Phú Cường, nói về chủ đề của CLB Sáng tác Thánh ca: Bộ lễ và Thánh ca cho thiếu nhi, và các bài Thánh ca theo chủ đề Kinh thánh để hát phù hợp chủ đề Thánh lễ.

Nhạc sĩ là người sinh ra “những đứa con tinh thần” nhưng thường bị quên lãng. Có lẽ thông cảm với nỗi cô-đơn-bị-bỏ-rơi đó nên Lm Giuse Nguyễn Hữu An đã chia sẻ đề tài “Nhạc sĩ, người làm chứng cho Thiên Chúa, Đấng Tuyệt Mỹ” thế này: “Có thể diễn tả nét đặc trưng: các Giám mục, Linh mục là những chứng nhân cho chân lý, những người làm việc bác ái xã hội làm chứng cho sự thiện, thì Nhạc sĩ làm chứng cho cái đẹp”. Thật là niềm an ủi cho các nhạc sĩ!

Thật vậy, “Hiến chế Thánh nhạc trong Phụng vụ” (số 121) cũng đề cập vai trò các nhạc sĩ Công giáo. Giáo hội đòi hỏi các nhạc sĩ phải có kiến thức chuyên môn, những tiêu chuẩn cơ bản để là nhạc sĩ, đồng thời phải có đời sống Kitô hữu đích thực thể hiện qua đức tin mạnh mẽ, đời sống đạo đức và tinh thần cầu nguyện. Nhạc sĩ sáng tác khi cầu nguyện, không chỉ trong nhà thờ mà mọi nơi mọi lúc, nhạc sĩ chân chính có thể cầu nguyện để viết Thánh ca. Thánh GH Piô X dạy:“Thánh nhạc phải thánh, phải loại bỏ những gì là phàm tục, không phải chỉ nơi bản chất thánh nhạc mà cả nơi người sáng tác và cách thể hiện”.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An nhận xét: “Ơn gọi làm nhạc sĩ rất cao đẹp vì đón nhận từ Thần lực Chúa Thánh Thần. Sứ vụ nhạc sĩ nặng nề lắm, bởi vì vừa phải chu toàn trách vụ với gia đình vừa chăm lo phục vụ Dân Chúa. Ơn gọi càng cao đẹp, nhạc sĩ càng thấy mình bất xứng. Sứ vụ càng phức tạp, nhạc sĩ càng thấy mình giới hạn. Chính vì thế, nhạc sĩ càng cần đến lời cầu nguyện của mọi người. Vậy để làm chứng cho Thiên ChúaĐấng Tuyệt Mỹ, nhạc sĩ cần nhiều ơn Chúa Thánh Thần. Nhạc sĩ múc lấy sức mạnh nơi Chúa Kitô Thánh Thể, Đấng tràn đầy Thánh Thần, và không ngừng chia sẻ Sự sống, Thần lực, Thần khí, Tình yêu của Ngài qua những bài Thánh ca. Chúa Kitô Thánh Thể là sự bình an và là niềm vui thánh thiện cho cuộc đời nhạc sĩ”.

Hôm nay, LmNs Phêrô Kim Long chính thức từ chức Phó chủ tịch Ủy ban Thánh nhạc (UBTN) vì lý do sức khỏe và tuổi tác (72 tuổi). Ngài “giã từ sân cỏ” nhưng không bỏ Thánh nhạc, và vẫn hoạt động với vai trò cố vấn. Ngài nói rằng ngài đã viết di chúc để lại căn nhà và thư viện Thánh nhạc (ởSaigon) cho UBTN, gởi 15.000 USD để lấy tiền lời trao giải Thánh ca: giải nhất 50%, giải nhì 30%, và giải ba 20%. Mọi người “ngậm ngùi” nhưng vẫn đứng lên vỗ tay cảm ơn Ngài về những đóng góp lớn cho nền Thánh nhạc ViệtNamsuốt hơn nửa thế kỷ qua. UBTNTQ đã trao ngài một số CD Thánh ca làm món quà lưu niệm.

11 giờ 30 cơm trưa và chia tay, cùng nhau hẹn gặp lại tại Hội thảo Thánh nhạc Toàn quốc lần thứ 31, sẽ tổ chức vào Thứ Ba, ngày 16-10-2012, cũng tại TTMV TGP Saigon.

Ns. Trầm Thiên Thu

Tường trình từ TTMV TGP Saigon

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
TGP Saigon tôn vinh Lòng Chúa Thương Xót Apr 16

Trong tất cả những yếu tố của việc sùng kính Lòng Thương Xót, qua Thánh nữ Faustina, Chúa đã yêu cầu ngày lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa phải được đặt ưu tiên lên hàng đầu. Thánh ý của Chúa đã được tỏ ra cho biết trong lần mặc khải đầu tiên với thánh nữ. Trong đó, tất cả 14 mặc khải có liên quan đến những điều mà Chúa mong muốn về ngày lễ này.

Ý Chúa thể hiện rõ về việc Ngài muốn lễ kính LCTX phải được cử hành vào ngày Chúa Nhật II Phục Sinh. Ngài liên kết ngày lễ này vào Chúa Nhật đã được chỉ định qua 8 lần mạc khải: Nhật ký số 49, 88, 280, 299, 341, 570, 699, và 742. Ngụ ý của Chúa về sự liên kết giữa ngày lễ với ngày Chúa Nhật được thể hiện đôi lần và được ghi lại trong cuốn Nhật Ký của Thánh Faustina, số 420 và 89.

Thật vậy, Chúa Giêsu đã đích thân chỉ định ý cầu nguyện cho từng ngày trong Tuần Cửu Nhật để chuẩn bị ngày lễ này một cách trọng thể. Ngài nhấn mạnh: “Hãy làm tất cả những điều mà các con có thể làm cho công việc của Lòng Thương Xót. Trái Tim Ta hoan hỷ trong ngày lễ này”. Thánh Faustina đã kết luận: “Qua những lời này, tôi nhận thức được rằng không điều gì có thể phân tán nghĩa vụ mà Chúa đã đòi hỏi nơi tôi” (Nhật ký, số 998). Và chúng ta vừa hoàn tất Tuần Cửu Nhật kính LCTX để cầu nguyện cho tất cả mọi người.

Công đồng Vatican II đã canh tân phụng vụ và gọi Chúa Nhật cuối của Tuần Bát Nhật Phục Sinh (trước đây gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành – Good Shepherd Sunday) là Chúa Nhật II Phục Sinh, đã được chỉ định trong sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ (Nhật tụng) và cử hành Thánh Thể. Sắc lệnh của Công đồng Vatican II về Phụng vụ Thánh và Giới luật các Bí tích gọi phụng vụ của ngày này là “Chúa Nhật II Phục Sinh” hoặc “Chúa Nhật Kính LCTX”.

ĐGH Gioan Phaolô II, được phong Chân phước ngày 1-5-2011, cũng đã tuyên bố về sự thay đổi này trong bài diễn văn của ngài tại buổi lễ phong thánh cho Nữ tu Faustina ngày 30-4-2000: “Một điều rất quan trọng là chúng ta nên công nhận toàn bộ thông điệp đã đến với chúng ta qua Lời Chúa trong ngày Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh, vì thế từ đây trở đi toàn thể giáo hội sẽ tuyên xưng ngày này là Chúa Nhật Kính LCTX”.

Nói đến Máu và Nước, chúng ta liên tưởng ngay tới lời kể của Thánh Gioan Tông đồ, người-môn-đệ-Chúa-yêu: “Bấy giờ, một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài, tức thì máu cùng nước chảy ra” (x. Ga 19:34). Nếu Máu là sự hy sinh của Chúa trên Thánh giá và là Hiến lễ của Thánh lễ, thì Nước tượng trưng không chỉ về Phép Rửa mà còn là Tặng phẩm của Chúa Thánh Thần (x. Ga 3:5; Ga 4:14; Ga 7:37-39).

Thánh Tiến sĩ Augustinô đã gọi Chúa Nhật Phục Sinh là “Bản Tóm Lược những ngày của lòng thương xót” (Homily 156, Dom. In Albis) và gọi Tuần Bát Nhật Phục Sinh là Ngày Khoan Hồng và Ân Xá – ngày của sự tạo dựng mới, ngày Chúa đã lập ra. Vì thế, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Chân phước GH Gioan Phaolô II đã long trọng tuyên bố trong chuyến hành hương viếng thăm mộ Thánh Faustina ngày 7-6-1997: “Tôi dâng lời cảm tạ lên Thiên Chúa toàn năng vì Ngài đã cho cá nhân tôi được góp phần vào việc thành lập ngày lễ kính LCTX một cách hoàn hảo theo Thánh Ý Chúa”.

Linh ảnh LCTX phải có một nơi vinh dự nhất vào ngày mừng lễ kính LCTX, hình ảnh Ngài nhắc cho ta tưởng nhớ cuộc Khổ Nạn, sự Chết và sự Phục-Sinh mà Ngài đã trải qua vì chúng ta, và cũng để nhắc nhở điều mà Chúa đòi hỏi chúng ta đáp trả cho Ngài – tuyệt đối tin tưởng nơi Ngài và khoan dung với mọi người: “Ta muốn hình ảnh Ta phải được tôn kính trong ngày Chúa Nhật đầu tiên sau Phục Sinh, và ta muốn điều này phải được tôn vinh một cách công khai để các linh hồn biết về điều này” (Nhật Ký, số 341).

Chúa hứa ban ơn tha thứ mọi tội lỗi và hình phạt cho chúng ta vào chính ngày lễ kính LCTX đã được ghi lại 3 lần trong Nhật Ký của Thánh Faustina: (1) “Ta muốn ban ân xá cho những linh hồn đã đi xưng tội và rước Mình và Máu Thánh Chúa trong ngày lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa” (Nhật Ký, số 1109); (2) “Bất cứ ai đến cầu xin Nguồn Mạch Sự Sống trong ngày này thì mọi tội lỗi và hình phạt sẽ được hoàn toàn tha thứ” (Nhật Ký, số 300); (3) “Những linh hồn đi xưng tội và rước Mình và Máu Thánh Chúa sẽ được đón nhận ơn tha thứ triệt để cho tội lỗi lẫn hình phạt” (Nhật Ký, số 699).

Tại Việt Nam, TGP Saigon là giáo phận tiên phong trong phong trào tôn kính Lòng Chúa Thương Xót (LCTX), khởi đầu từ Nhà thờ Tân Định (3 giờ chiều mỗi ngày đều có lần Chuỗi LCTX, đặc biệt thứ Sáu hàng tuần có Thánh lễ kính LCTX). Và nay phong trào LCTX đã lan rộng kháp Việt Nam.

Vâng lệnh Đức Giêsu Kitô và tuân phục Giáo hội Công giáo, TGP Saigon đã tổ chức Đại lễ LCTX ở hai nơi: tại Nhà thờ Tân Định (lễ Vọng), và tại TTMV TGP Saigon (lễ chính).

Ai cũng từng PHẠM TỘI, không ai ngay lành trước mặt Chúa, thế nên ai cũng PHẢI liên tục khẩn cầu LCTX. Khi lần Chuỗi Mân Côi, chúng ta cầu xin 5 lần: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội chúng con, xin đem các linh hồn lên Thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến LCTX hơn”. Khi lần Chuỗi LCTX, chúng ta cầu xin vài chục lần: “Vì Cuộc Khổ Nạn đau thương của Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót chúng con và toàn thế giới”. Và chúng ta vô cùng hạnh phúc vì Chúa Giêsu đã và đang thì thầm với mỗi chúng ta: “LTX của Cha lớn hơn tội lỗi của con và toàn thế giới”. Muôn vàn tạ ơn Chúa!

Tuy nhiên, chúng ta phải lưu ý: Đừng tưởng người-trộm-lành-Dimas xin Chúa Giêsu chỉ một lần liền được Ngài tha thứ và cho hưởng phúc trường sinh ngay, còn chúng ta xin hàng ngàn lần trong cuộc đời thì sẽ chác chắn được Ngài tha thứ và có chỗ dành sẵn trên Thiên đàng. Tại sao? Vì chất lượng hơn số lượng. Thật vậy, Chúa Giêsu nói: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mt 15:8).

NHÀ THỜ TÂN ĐỊNH

Từ 16 giờ ngày 14-4-2012, mọi người dần dần đổ về khu vực Nhà thờ Tân Định, giáo hạt Tân Định. Càng lúc càng đông, đủ mọi lứa tuổi, có một số người phải ngồi xe lăn. 17 giờ, mọi người bắt đầu lần Chuỗi Mân Côi và Chuỗi LCTX. Đúng 18 giờ, bắt đầu Thánh lễ kính LCTX. Số người hiện diện khoảng 5.000 người.

Chủ tế là ĐGM Cosma Hoàng Văn Đạt (Dòng Tên), Giám mục GP Bắc Ninh kiêm Tổng thư ký HĐGM Việt Nam. Cùng đồng tế là LM G.B. Võ Văn Ánh, đặc trách giáo dân kiêm Hạt trưởng giáo hạt Tân Định và Tổng linh hướng CĐ LCTX TGP Saigon, và 10 linh mục khác.

Đây không chỉ là lễ Vọng kính LCTX mà còn đang là Năm thánh mừng 150 năm thành lập Gx Tân Định: “Đây mùa Hồng ân, Trời mới Đất mới chói chang, Tân Định đoàn con hân hoan đón mừng Năm thánh. Muôn tâm hồn kết giao tình thân, hiệp nhất sống đời chứng nhân”.

Trong bài giảng, ĐGM Cosma nói: “Chắc chắn chúng ta đang có Chúa Phục Sinh”. Ngài cho biết rằng GP Bắc Ninh cũng vừa kỷ niệm 150 năm sự kiện 100 đầu mục tử đạo, hầu hết bị chôn sống. Được biết GP Bắc Ninh hiện đang giữ cây Thánh Giá mà ngày xưa vua quan đã bắt người ta phải bước qua để chứng tỏ mình bỏ đạo. Ngài nhắc lại một số “chuyện buồn” như một thanh niên đã sát hại một gia đình chủ tiệm vàng ở Bắc Ninh, một thiếu niên 14 tuổi đã giết bạn để lấy chiếc xe đạp, một đứa cháu giết bà chỉ vì thiếu tiền chơi game,… Ngài nói rằng có người chỉ lỡ cán con chó mà sợ không dám đi xe suốt vài tháng, thế mà có những người lại nỡ sát hại đồng loại, thậm chí là thân nhân ruột thịt. Đó là thiếu LCTX.

ĐGM Cosma nói: “Mỗi người trong gia đình phải biết thương xót nhau, đồng thời thể hiện lòng thương xót đến với bạn bè, đến với những người trong giáo xứ, đến với mọi người, để biến cộng đoàn mình đang sống trở thành CĐ LCTX”. Thật vậy, Chúa Giêsu đã cầu chúc: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7).

Ngài kể về một nữ tu cho biết đã giúp các trẻ em thiểu năng dần dần phân biệt tay phải và tay trái. Ngài nói rằng phải có lòng yêu mến Chúa mới có thể kiên nhẫn làm được như vậy. Chắc chắn Chúa cần những người như vậy hơn những người tổ chức đám cưới tốn vài chục tỷ đồng! Ngài nói rất thích câu nói của một phụ nữ định nghĩa về Giáo hội: “Giáo hội là Thiên Chúa có trái tim của người mẹ, và Giáo hội là người mẹ có trái tim của Thiên Chúa”. Cách định nghĩa thật ý nghĩa!

Ngài nói: “Khi chịu chức linh mục, tôi được tặng tấm hình Chúa Giêsu ôm con chiên. Tôi thấy mình như con chiên lạc đã được Chúa đem về cho làm linh mục và giám mục, vậy tôi phải đi tìm những con chiên lạc về cho Chúa. Có khi tôi đã khóc khi ngắm nhìn tấm hình đó. Phúc âm hôm nay cho thấy Chúa đã đi tìm môn đệ Tôma. Ông không tin Chúa đã sống lại nhưng Chúa làm ông tin. Nói vui chứ nếu Chúa vô cảm thì chúng ta chết hết, thế nhưng Chúa lại là Đấng Giàu Lòng Thương Xót nên Chúa tha thứ hết”. Ngài kết thúc bài giảng: “Xin Mẹ Maria, xin các Thánh Tử Đạo, và xin Thánh Faustina giúp chúng ta luôn biết thương xót nhau”.

Cuối bài giảng, khi được vỗ tay hoặc khi được tặng hoa, ĐGM Cosma đều nói: “Xin cảm ơn cộng đoàn”. Có lẽ ngài cũng có “máu nhạc” nên ngài luôn hát theo khi ca đoàn hợp tấu. Đặc biệt thấy ngài rất hay cười. Thiết tưởng “cảm ơn” và “cười” là nét độc đáo của một con người, tuyệt vời hơn khi đó lại là một giám mục!

Trước khi kết thúc Thánh lễ, ĐGM Cosma đã ban Phép lành Tòa thánh cho mọi người tham dự Thánh lễ. Ơn Toàn Xá hôm nay được trao ban cho mọi người sốt sắng dâng lễ kính LCTX, đồng thời có rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng.

TRUNG TÂM MỤC VỤ TGP SAIGON

Ngày 15-4-2012, Đại lễ LCTX được tổ chức tại TTMV TGP Saigon. 14 giờ, nhiều người đã có mặt dù trời rất nắng. 14 giờ 30, đội trống biểu diễn những điệu trống sôi động. 14 giờ 50, mọi người bắt đầu lần Chuỗi Mân Côi và Chuỗi LCTX. Đúng 17 giờ, bắt đầu Thánh lễ kính LCTX. Số người càng lúc càng đông, tổng cộng khoảng 20.000 người.

16 giờ là phần diễn nguyện về LCTX. 16 giờ 45 là phần chia sẻ về Thánh Faustina của ĐGM Giuse Nguyễn Chí Linh, Giám mục GP Thanh Hóa kiêm phó chủ tịch HĐGMVN. Ngài nói: “Tôi rất vui khi được đến đây chia sẻ với anh chị em. Tôi tưởng việc sùng kính LCTX chỉ dành cho những người lớn tuổi và những người không đi làm, vì 3 giờ chiều là giờ nóng bức và buồn ngủ, nhưng rất ngạc nhiên thấy có rất nhiều bạn trẻ. Mỗi khi có sự cố gì thì Chúa cho xuất hiện một vị thánh, như thế kỷ XIII xảy ra tranh giành Thánh Địa thì Chúa gởi tới Thánh Đa Minh với Chuỗi Mân Côi. Thời đại chúng ta được Chúa gởi Thánh Faustina với Chuỗi LTX”.

Ngài nói thêm rằng Bí tích Hòa giải rất quan trọng, vì nhờ đó mà chúng ta có thể được tha thứ tội lỗi và hòa giải với Thiên Chúa. 3 giờ chiều là giờ Chúa Giêsu chết, và ngay khi đó “bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới” (Mt 27:51). Đó là giờ của Ân sủng, giờ của sự tha thứ, giờ của ơn cứu độ, giờ của LCTX.

Cái nắng và cái nóng của mùa hè khiến ai cũng chảy mồ hôi nhễ nhại, nhưng lòng yêu mến Chúa Giêsu nơi mọi người đã khiến họ chịu đựng vượt qua tất cả. Những chiếc quạt nhẹ nhàng và đều đặn phe phẩy trên tay nhiều người nhìn như một điệu múa quạt truyền thống.

17 giờ, LM Gioan Thiên Chúa Nguyễn Thới Minh, GP Xuân Lộc, chia sẻ đôi điều giúp cộng đoàn hiệp dâng Thánh lễ. 17 giờ 30 đoàn rước kiệu LCTX cùng đoàn đồng tế tiến về lễ đài trong tiếng reo hò vang dội của cả 20.000 người: “Con yêu Chúa! Con tín thác vào Ngài!”.

Chủ tế là ĐGM Phêrô Nguyễn Văn Khảm, Giám mục Phụ tá TGP Saigon. Cùng đồng tế là ĐGM Antôn Vũ Huy Chương, Giám mục GP Dalat, LM G.B. Võ Văn Ánh, Tổng linh hướng CĐ LCTX TGP Saigon, và 13 linh mục.

Trong bài giảng lễ, ĐGM Phêrô nói rằng niềm tin của chúng ta nhờ vào “ngôi mộ trống”, những lần Chúa Giêsu hiện ra và các Thánh Tông đồ. Đức tin không dựa vào phép lạ, mà phải nhờ vào Lời Chúa. Ngày xưa, bao người thấy nhiều phép lạ Chúa làm, nhưng họ vẫn đồng lõa hô to: “Đóng đinh vào thập giá!” (Ga 19:6).

ĐGM Phêrô nói: “Thương tích của Chúa là bằng chứng về LCTX. Thương tích đó là do tội lỗi, sự độc ác, sự độc đoán, sự hèn nhát, sự phản bội, sự chạy trốn,… của Tông đồ trưởng Phêrô, của ông Giuđa, của các Tông đồ khác, và của chính chúng ta”.

Khi các Tông đồ họp nhau trong nhà kín, với cửa đóng then cài, Chúa Giêsu hiện đến nói với họ: “Bình an cho anh em” (Ga 20:19; Ga 20:21; Ga 20:26). Lời chúc đó là ơn tha thứ. Ngài đến ban bình an và tha thứ, chứ không hề nhắc đến lỗi lầm của Tông đồ nào. Ơn tha thứ đó là LCTX. Được thương xót rồi thì phải có trách nhiệm: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20:21). Chúa sai chính mỗi người trong chúng ta làm chứng về LCTX cho những người khác, tức là sống LCTX: Cầu nguyện và giúp đỡ những người gặp khó khăn, gặp hoạn nạn, gặp đau khổ…

Kết thúc bài giảng, ĐGM Phêrô nói rất vui và chuyển lời cảm ơn của ĐHY G.B Phạm Minh Mẫn, TGM TGP Saigon, đồng thời xin mọi người cùng hát lời Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô Assisi (Lm Ns Kim Long phổ nhạc): “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người…”. Thật tuyệt vời, vì cả lời kinh này là những động thái sống LCTX.

Cuối Thánh lễ, ĐGM Phêrô và ĐGM Antôn cùng ban Phép lành Tòa thánh để mọi người hưởng Ơn Toàn Xá của Đại lễ LCTX.

19 giờ 20, Thánh lễ kết thúc. Mọi người ra về với ơn của LCTX tràn ngập tâm hồn… Chắc chắn Chúa Giêsu rất vui lòng khi thấy càng ngày càng nhiều người biết vâng lệnh Ngài truyền dạy mà chạy đến với LCTX.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Gx Đức Mẹ Vô Nhiễm – Ngày Hồng Ân Apr 14

Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài! – Jezu Ufam Tobie ! – Jesus, I Trust In You !

TGP SAIGON – Theo quan niệm người đời trên thế giới, thứ Sáu 13-4 là ngày “xấu”, là ngày “đen”, là ngày “xui xẻo”; nhưng thứ Sáu 13-4-2012 đối với Gx Đức Mẹ Vô Nhiễm (Giáo hạt Gia Định, gọi tắt là Gx Vô Nhiễm) lại là Ngày Hồng Ân.

Thật vậy, đây là niềm-vui-3-trong-1: Thánh lễ tạ ơn Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) luân phiên của giáo hạt Gia Định, ngày kỷ niệm 3 năm thành lập Cộng đoàn LCTX của giáo xứ, và mừng tân LM Phanxicô Saviô Nguyễn Văn Thượng (GP Mỹ Tho, chịu chức ngày 26-3-2012, cháu linh tông của LM Giuse Đinh Hoàn Năng, chính xứ Vô Nhiễm).

16 giờ 30 lần chuỗi LCTX. 17 giờ 30 Thánh lễ. Chủ tế là tân linh mục. Cùng đồng tế là linh mục chính xứ và 2 linh mục khác (một ở Đồng Tháp, một ở Vũng Tàu). Số giáo dân tham dự Thánh lễ khoảng hơn 300 người.

Trong bài giảng, LM Phêrô Phạm Ngọc Tuyến (tổng linh hướng CĐ LCTX GP Vũng Tàu) nói về thần học của LCTX và ý nghĩa linh ảnh LCTX. Thánh sử Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8). Sau khi bà tổ Êva nghe lời con rắn xúi giục, Thiên Chúa quyết định: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót người phụ nữ đó” (St 3:15). Rồi Thiên Chúa nói với người đàn bà: “Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con”, đồng thời “ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra” (St 3:16-17). Từ đó con người phải gánh chịu đau khổ. Và vì đau khổ mà con người cần đến LCTX.

Chúa Giêsu đã muốn linh ảnh LCTX phải được tôn kính và được đặt nơi trang trọng nhất trong các nhà thờ, và Chúa Nhật II Phục Sinh phải là ngày lễ kính LCTX. Vì thế, ngày 4-8-2002, Tòa Ân giải Tối cao đã công bố sắc lệnh do Chân phước GH Gioan Phaolô II ấn ký. Sắc lệnh này quyết định ban Ơn Toàn Xá cho những ai xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý ĐGH trong ngày Đại lễ LCTX.

LM Tuyến nói: “Người trộm lành, phải nói là tướng cướp, đã xin Chúa Giêsu 1 lần khi cùng bị đóng đinh với Ngài, thế mà Ngài tha thứ hết tội lỗi của anh ta và cho anh ta vào Thiên đàng ngay. Còn chúng ta, khi lần chuỗi LCTX, chúng ta nhiều lần khẩn cầu LCTX tha tội cho chính chúng ta và cả thế giới, chắc chắn chúng ta sẽ được lên Thiên đàng cả dép”.

ĐHY P.X. Nguyễn Văn Thuận có cách nói rằng “Thiên Chúa là người hay quên và không biết tính toán”. Vì Chúa “hay quên” và “không rành làm toán” nên Ngài đã cho Dimas (người trộm lành) vào Thiên đàng ngay lập tức – và đến lượt chúng ta cũng vậy. Chắc chắn Chúa Giêsu là chủ nhân của Nước Trời nên Ngài mới có “chìa khóa” mở Cửa Thiên Đàng cho Dimas vào. Chìa-khóa-vạn-năng đó là LCTX, và Chúa Giêsu cũng đang dùng “chìa khóa” đó để đưa chúng ta vào Nước Trời. Chúa Giêsu là “Đấng gánh tội trần gian”, do đó mà LCTX luôn lớn hơn cả tội lỗi của mỗi chúng ta và cả thế giới. Kỳ diệu quá!

Người-trộm-lành-Dimas thật khôn ngoan, vì biết mình đã “trắng tay” với thế gian, Dimas đã bám lấy “phao cứu sinh” là Đức Giêsu Kitô. Cả đời trộm cướp, nay Dimas lại “trộm” được cả Nước Trời. Khôn quá chừng!

Giáo hội luôn tha thiết kêu gọi: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:1). Điệp khúc “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” cứ được lặp đi lặp lại trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh để nhắc chúng ta nhớ đến Tình yêu cao cả của Chúa, cũng chính là Lòng Chúa Thương Xót. Đức Kitô là “tảng đá thợ xây nhà loại bỏ” nhưng lại “trở nên đá tảng góc tường” (Tv 118:22), và “đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” (Tv 118:23).

“Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:24). Vì là “ngày Chúa đã làm ra” nên chúng ta phải vui mừng mà cầu xin: “Lạy Chúa, xin ban ơn cứu độ, lạy Chúa, xin thương giúp thành công” (Tv 118:25). “Đức Chúa là Thượng Đế, Ngài giãi sáng trên ta” (Tv 118:27), đó là điều chắc chắn xảy ra đối với những ai tín thác vào LCTX.

Được biết, theo văn thư số 31bis/BT/70, Đức cố TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình ký ngày 01-06-1970, Gx Đức Mẹ Vô Nhiễm chính thức được thành lập. Khởi công xây dựng nhà thờ ngày 30-4-1987 thời LM Phêrô Phạm Minh Công, làm phép nhà thờ và thánh hiến bàn thờ ngày 20-11-1988.

Nhà thờ Vô Nhiễm (đã qua một lần trùng tu vào năm 1990) tọa lạc tại số 4bis Hoàng Hoa Thám, Phường 7, Quận Bình Thạnh, Saigon. Bổn mạng giáo xứ là Đức Mẹ Vô Nhiễm, lễ kính ngày 8 tháng 12. Linh mục quản xứ hiện nay là Giuse Đinh Hoàn Năng (nhận “bài sai” năm 2005). Số giáo dân là 2.107, gồm 409 gia đình (thống kê cuối năm 2009). Giáo xứ có 4 giáo khu: khu Fatima (588 giáo dân), khu Giuse (234 giáo dân), khu Vinh Sơn (515 giáo dân), và khu Antôn (770 giáo dân). Gx Vô Nhiễm có website riêng là DucMeVoNhiem.com.vn.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Linh mục người dân tộc Oraon đầu tiên Apr 13

<Điệu múa của dân tộc Oraon trước lễ truyền chức linh mục.

NEPAL (UCANews, 12-4-2012) – Ngày 11-4-2012, một người dân tộc Oraon đầu tiên được thụ phong linh mục tại Gx Damak qua nghi thức đặt tay của ĐGM Anthony Sharma, cùng đồng tế có hơn 20 linh mục.

Phó tế Promod Toppo được thụ phong linh mục tại trường trung học Suryodaya, đây cũng là Nhà thờ Vô Nhiễm và nữ tu viện Thánh Giuse Cluny.

LM Toppo, 34 tuổi, sinh trưởng tại Damak, nói rằng ngài cảm ơn về cơ hội phục vụ cộng đoàn mà ngài được giáo dục.

LM Toppo cho biết: “Theo quy luật, người ta không bao giờ được đặt ở nơi sinh của mình, nhưng con không ở đây chỉ để phục vụ anh chị em mình. Chính Chúa Giêsu đã không hoạt động vì dân Do Thái mà vì tất cả mọi người. Thế nên con sẽ đi rao giảng và và thực hiện sứ vụ Ngài trao”.

Damak được coi la một trong các giáo xứ lâu đời nhất ở Nepal. Gx Damak ở gần đồn điền trà của Nepal và gần các trại tị nạn của Bhutan, cách biên giới Ấn Độ khoảng 2 giờ đi, đã được các nhà truyền giáo Ấn Độ phục vụ từ thập niên 1940. Dân tộc Oraon là bộ lạc người Adivasi đến từ Ấn Độ nhưng định cư ở Nepal từ nhiều thế hệ trước.

Nữ tu Winifred Mukhia (Nữ tu viện Thánh Giuse Cluny) đã giúp thành lập trường trung học Suryodaya năm 1986, lúc đó cậu Toppo là học sinh của trường. Nữ tu Winifred Mukhia nói: “Tôi là hiệu trưởng khi cha Toppo đang học ở đây. Cha là người hiền lành và trầm tĩnh từ nhỏ”.

Anh Bina Toppo nói: “Thánh lễ truyền chức này là phép lành đối với giáo xứ. Chúng tôi rất hạnh phúc, vì cha Promod Toppo là linh mục đầu tiên của dân tộc chúng tôi. Ngài là tấm gương sáng và là câu trả lời cho những lời cầu nguyện của chúng tôi”.

Chưa đến 12 linh mục người dân tộc phục vụ ở Nepal, tất cả có 69 linh mục, kể cả 36 linh mục Dòng Tên.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Hai động thái Apr 13

“Lời Chúa là lời chân thật” (Tv 12:7) và “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119:105). Đó là điều tất nhiên, vì chúng ta vẫn tâm niệm: “Lời Chúa hứa, lòng con ấp ủ” (Tv 119:11). Có khi Lời Chúa làm cho chúng ta thực sự phấn khởi và vui mừng, nhưng có khi Lời Chúa lại làm cho chúng ta đau điếng và phải… giật mình!

Trong trình thuật Lc 18:9-14 cho biết Đức Giêsu kể dụ ngôn về hai động thái trái ngược nhau: Kiêu ngạo và Khiêm nhường. Trong cuộc sống thường nhật chúng ta vẫn thấy có những người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác, thậm chí chính chúng ta cũng đã từng hơn một lần nhìn người khác bằng “nửa con mắt” như vậy!

Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”(Lc 18:11-12).

Người Pharisêu “đứng thẳng” và tự nhận mình “không như tên thu thuế kia”. Đó là hai động thái đầy vẻ kiêu ngạo và ảo tưởng. Không chỉ vậy, ông ta còn “khoe mẽ” là “ăn chay mỗi tuần hai lần” và “dâng cho Chúa một phần mười thu nhập”.

Đạo đức và thánh thiện quá! Thảo nào ông ta không “vênh vang” sao được, vì ông ta vừa tỏ ra đạo đức vừa tỏ ra hào phóng với Chúa bằng chính tiền bạc của ông ta. Chắc là ông ta cũng thường xuyên “đi làm từ thiện” lắm! Loại người này được người ta gọi là “ông kia, bà nọ”, được “chú ý”, được “tâng bốc”, được “đưa đón”, được “ăn trên, ngồi tróc”,…

Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18:13). Ngày xưa, người thu thuế “bị” coi là “phường tội lỗi” – vì thường “bóp chẹt” dân. Thế nên loại người này bị gọi là “thằng”, là “nó”, khá lắm cũng chỉ là “anh”.

Hẳn là người thu thuế biết “thân phận” mình nên khi anh ta vào nhà thờ chỉ “đứng ở góc cuối” và “không dám ngước mặt nhìn ai”, vừa đấm ngực vừa lâm râm cầu xin ơn tha thứ cho mình. Anh ta biết người ta luôn nhìn mình bằng ánh-mắt-mang-hình-viên-đạn, thế nên anh ta đành nín thinh và không dám nói nửa lời.

Chúa Giêsu bảo: “Tôi nói cho các ông biết: người này (người thu thuế), khi trở xuống mà về nhà thì đãđược nên công chính rồi; còn người kia (người Phariêu) thì không” (Lc 18:14a). Và Ngài xác định: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18:14b). Khiêm nhường là nền tảng mọi nhân đức. Kinh “Cải Tội Bảy Mối” đã đặt “khiêm nhường” vào “mối” thứ nhất: “Khiêm nhường chớ kiêu ngạo”. Nói đến đức-khiêm-nhường là có “đụng chạm” tới tính-kiêu-ngạo.

Sau giây phút cầu nguyện trước mặt Chúa, người-tự-nhận-tội-lỗi kia đã lãnh nhận được Lòng Chúa Thương Xót, còn người-tự-nhận-công-chính lại không nhận được Ơn Chúa. Chính Chúa Giêsu xác định:“Chẳng có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa” (Lc 18:19). Trước mặt Chúa, tất cả chúng ta (không trừ ai) đều là tội nhân khốn nạn. Đó là sự thật trăm phần trăm. Đừng ảo tưởng mà kiêu ngạo!

Ở Lc 19:1-10, chúng ta cũng biết được chuyện ông Da-kêu. Ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có. Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn. Ông chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để chờ xem Đức Giêsu đi qua đó. Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, Ngài nhìn lên và nói với ông: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay Tôi phải ở lại nhà ông!” (Lc 19:5). Chúa Giêsu tự nhận trách nhiệm “phải ở lại” nhà ông Da-kêu. Chắc hẳn Chúa vào nhà ông không phải vì ông là người-giàu-nứt-đố-đổ-vách hoặc lắm-của-nhiều-tiền, mà chỉ vì ông là người-tội-lỗi, Chúa muốn “giải thoát” ông-mập-lùn ấy.

Nghe Chúa Giêsu nói vậy, ông khoái chí nên vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Ngài. Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!” (Lc 19:7). Ở đây chúng ta cũng thấy rõ hai động thái: Kiêu ngạo và Khiêm nhường.

Ông Da-kêu không cần tính toán, liền thưa với Chúa: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19:8). Biết nghề của mình “không trong sạch” và “lóm lém” ít nhiều, ông sẵn sàng trả lại công lý cho những người đã bị đối xử bất công, và ông sẵn sàng “đền gấp bốn” cho người bị hại. Quá tuyệt vời! Thế nên Đức Giêsu mới nói về ông ta: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19:9-10).

Ông Da-kêu mang tiếng là “phường tội lỗi” nhưng ông đã thật lòng sám hối, quyết từ bỏ “con người cũ” để trở nên “con người mới”, và ông đã được lãnh nhận Lòng Chúa Thương Xót ngay lập tức. Chúa Giêsu luôn nhấn mạnh mà chúng ta lại thường không muốn nhớ: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.

Vừa qua, ngày 5-4-2012 (Thứ Năm Tuần Thánh), Đài truyền hình quốc gia Venezuela (cơ quan thông tấn chính thức) đã đưa bản tin gây sửng sốt đối với dân chúng và các giám mục của Venezuela về tổng thống Hugo Chavéz. Chuyện lạ hơn nữa là ông đeo một chuỗi tràng hạt như một người Công Giáo mộ đạo, và khóc ngay trước mặt mọi người trong Thánh lễ hôm đó. Báo The Wall Street tường thuật rằng, tổng thống Hugo Chavéz đứng trên bục giảng, quay mặt xuống anh chị em giáo dân, vừa khóc vừa nói:“Lạy Chúa xin cho con cuộc sống, thậm chí là một cuộc sống bị thiêu đốt, hoặc đau đớn đi nữa cũng không quan trọng [miễn còn sống là được]”.

Ngài tổng thống Hugo Chavéz bị ung thư. Khi ĐGH Bênêđictô XVI sang thăm Cuba (từ 26 đến 28-3-2012), tổng thống Hugo Chavéz đã có mặt tại đó vào ngày 24-3-2012 để xạ trị và ông tỏ ý muốn được gặp ĐGH. Tuy nhiên, sau đó chuyện không thành. Thiết tưởng điều đó cũng không thành vấn đề.

Vấn đề cần lưu ý ở đây là “lòng thành” của một vị tổng thống. Có thể chính căn bệnh ung thư của ông khiến ông đang phải đối diện với cái chết, và cũng nhờ đó mà ông biết cầu nguyện, biết khao khát, biết trông mong và biết tín thác vào Thiên Chúa. Thánh Ý Chúa quá mầu nhiệm!

Theo Thánh Phaolô, chúng ta “đừng hoá ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa” (Ep 5:17), và “xin cho ý Chúa được thể hiện!” (Cv 21:14). Đó là điều tối cần thiết đối với chúng ta đang trên đường lữ hành tiến về Nước Trời.

Nhờ Ơn Chúa, chúng ta phải quyết tâm và tự nhủ: “Hãy tỉnh thức, hãy đứng vững trong đức tin, hãy làm mọi sự vì đức ái” (1 Cr 16:13-14). Đó là bí quyết sống khiêm nhường và tránh kiêu ngạo, đồng thời là cách sống Mầu nhiệm Phục sinh và sống tinh thần của Lòng Chúa Thương Xót.

TRẦM THIÊN THU

Thứ Năm trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Gx Châu Bình tín thác Lòng Chúa Thương Xót Apr 12

“Hãy nói cho thế giới biết về Lòng Thương Xót của Ta… Đây là dấu hiệu thời kỳ cuối hết, sau đó sẽ là Ngày Công Lý” (Nhật Ký, số 848).

TGP SAIGON – 17 giờ 30 ngày 11-4-2012, thứ Tư trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh, Gx Châu Bình (Giáo hạt Thủ Đức) đã hiệp dâng Thánh lễ ra mắt Ban chấp hành Cộng đoàn Lòng Chúa Thương Xót (CĐ LCTX). Được biết, Gx Châu Bình là giáo xứ đầu tiên của giáo hạt Thủ Đức chính thức có CĐ LCTX, với số hội viên là 150 người.

Ra mắt CĐ LCTX và Ban chấp hành tuyên hứa hôm nay thật ý nghĩa, vì là một ngày trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh, khi cả Giáo hội đang hân hoan kính mừng Mầu nhiệm Phục sinh, mà LTX là tặng phẩm vô giá của Đức Kitô Phục Sinh, và Chúa Nhật kế tiếp là Đại lễ LCTX.

Chủ tế là LM G.B. Võ Văn Ánh, linh mục đặc trách về giáo dân (trực thuộc HĐGMVN) kiêm tổng linh hướng CĐ LCTX của TGP Saigon. Cùng đồng tế có LM Gioan Maria Vianney Phạm Mạnh Cương (CMC), 3 Linh mục Dòng Đồng Công và 1 Phó tế. Số người tham dự Thánh lễ khoảng 400 người, trong đó có 6 thành viên Ban chấp hành CĐ LCTX TGP Saigon và các CĐ LCTX thuộc các giáo xứ lân cận.

Bài đọc hôm nay là sách Công vụ Tông đồ, kể chuyện một người què từ khi lọt lòng mẹ, được người ta khiêng đến cửa Đền Thờ (gọi là Cửa Đẹp) để xin kẻ ra vào Đền Thờ bố thí. Vừa thấy ông Phêrô và ông Gioan sắp vào Đền Thờ, anh liền xin bố thí. Hai ông nhìn thẳng vào anh, và ông Phêrô nói: “Anh nhìn chúng tôi đây!” (Cv 3:4). Anh ta chăm chú nhìn hai ông, tưởng rằng sẽ được cái gì. Bấy giờ ông Phêrô nói: “Vàng bạc thì tôi không có; nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây: nhân danh Đức Giêsu Kitô người Nadarét, anh đứng dậy mà đi!” (Cv 3:6).

Lúc đó, ông Phêrô nắm tay mặt anh và kéo anh chỗi dậy. Lập tức bàn chân và xương mắt cá của anh trở nên cứng cáp. Anh đứng phắt dậy, đi lại được; rồi anh cùng hai ông vào Đền Thờ, vừa đi vừa nhảy nhót và ca tụng Thiên Chúa. Khi người ta nhận ra anh chính là người vẫn ngồi ăn xin tại Cửa Đẹp Đền Thờ, họ kinh ngạc sững sờ về sự việc mới xảy đến cho anh (Cv 3:10).

Dân chúng kinh ngạc vì chưa hề thấy “sự lạ” như vậy. Nhưng những người tin vào tình yêu Thiên Chúa, tin vào Thánh Tâm Chúa, tín thác vào LCTX thì phải bảo nhau: “Hãy tự hào vì danh thánh Chúa” (Tv 105:3). Không tự hào sao được khi “chính Đức Chúa là Thiên Chúa chúng ta, những điều Ngài quyết định là luật chung cho cả địa cầu. Giao ước lập ra, muôn đời Ngài nhớ mãi, nhớ lời đã cam kết đến ngàn thế hệ” (Tv 105:6-9).

Phúc âm hôm nay là trình thuật Lc 24:13-35, kể lại chuyện hai môn đệ trên đường Emmau. Đường từ Giêrusalem tới làng Emmau xa khoảng 11 km. Một khoảng đường dài nếu phải đi bộ. Họ vừa đi vừa trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, Đức Giêsu tiến đến gần mà họ không nhận ra, cứ tưởng là khách qua đường. Mãi đến khi họ mời Chúa Giêsu ở lại vì trời tối, rồi đồng bàn, họ mới nhận ra Thầy mình khi Chúa Giêsu cầm lấy bánh, tạ ơn, và bẻ bánh trao cho họ.

Chúa Giêsu nói với họ: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ!”(Lc 24:25). Đó cũng là lời Ngài trách mỗi chúng ta, vì chúng ta đã và đang nhiều lần không nhận ra Chúa trong lịch sử đời mình và lịch sử nhân loại, không nhận ra dấu chỉ, không nhận ra Ý Chúa, thậm chí là không muốn nhận ra Ý Chúa mà chỉ muốn theo ý mình.

Trong bài giảng, LM Tổng linh hướng Võ Văn Ánh đã dẫn chứng câu Kinh thánh: Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1:17-18). Kinh thánh cũng đã nhiều lần nhắc lời động viên của Đức Kitô: “Đừng sợ! (Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5; Mt 28:10; Mc 5:36; Mc 6:50; Lc 1:13 & 30; Lc 2:0; Lc 5:10; Lc 12:4; Lc 12:7; Lc 12:32; Lc 21:9; Ga 6:20).

Chúa Giêsu đã tha thứ cho chính những người hành hạ mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Đó cũng là chính Ngài trao bao LTX cho chính mỗi chúng ta.

LM Ánh cũng nhắc lại 3 điều trong việc tôn sùng LCTX: Thỉnh cầu (cầu xin LCTX), Thực thi (thực hành LCTX), và Tín thác (tin cậy vào LCTX). Đó là 3 chữ T cần ghi nhớ.

“Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118 và 136). Đó là Mầu nhiệm LCTX, thậm chí chính Chúa Cha cũng không “tha chết” cho Con Yêu Dấu vì muốn cứu độ chúng ta. Chính LCTX khả dĩ thay đổi số phận nhân loại. LCTX thúc đẩy chúng ta PHẢI đáp lại tình yêu bao la và sự hy sinh cao cả của Đức Kitô.

Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã mặc khải Hai Luồng Sáng là biểu tượng của Máu và Nước. Máu là Thánh Thể và sự hy sinh của Chúa Giêsu trên Đồi Can-vê. Nước là Bí tích Rửa tội và Giải tội. Đó là cả một Chuỗi LCTX. Chúng ta không có lý do để làm ngơ!

Tiếp theo là phần tuyên hứa của 6 thành viên Ban chấp hành CĐ LCTX Gx Châu Bình: (1) Vâng phục giáo quyền, (2) Trung thành với linh đạo LCTX, và (3) Nhiệt thành làm tông đồ. Sau đó là phần gắn huy hiệu LCTX cho các hội viên. Trong khi gắn huy hiệu, ca đoàn hát bài thánh ca “Bao La Tình Chúa” của NS Giang Ân thật ý nghĩa: “Hồng ân Chúa như mưa như mưa rơi xuống đời con miên man miên man… Đời có Chúa êm trôi êm trôi… Có Chúa cùng đi con không đơn côi. Ôi, tình tuyệt vời!”.

Tình yêu Chúa tuyệt vời! Thánh Tâm Chúa tuyệt vời! Thánh Thể Chúa tuyệt vời! Và LCTX cũng tuyệt vời!

Gx Châu Bình tọa lạc tại số 470/17 Tỉnh lộ 43, Phường Tam Phú, Quận Thủ Đức, TPHCM. Giáo xứ Châu Bình được các Linh mục Dòng Đồng Công (CMC) thành lập ngày 15-6-1956. Nhà thờ được đại tu và được Đức cố Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình thánh hiến bàn thờ ngày 9-10-1983. Bổn mạng giáo xứ là Mẫu Tâm. Hiện nay, quản xứ là LM Gioan Maria Vianney Phạm Mạnh Cương, CMC. Số giáo dân là 3.300 người.

Hôm nay, Gx Châu Bình đã chính thức tín thác vào LCTX. Đó là một hồng ân kỳ diệu, một niềm hạnh phúc miên man bắt đầu từ hôm nay…!

TRẦM THIÊN THU

DỌC ĐƯỜNG EMMAU
(Lc 24:12-35)
Emmau một buổi chiều tà
Có hai môn đệ bước đi nặng sầu
Con đường thăm thẳm lo âu
Ngổn ngang trăm mối, nát nhàu tâm can
Hòng hôn buông xuống, tối dần
Hai ông sợ bởi xa xăm đường dài
Chợt người khách lạ hỏi ngay:
“Chuyện gì có thể cho tôi cùng bàn?”
Hai ông quá đỗi ngạc nhiên:
“Chắc ông là khách lạ thăm vùng này
Nên ông không biết không hay
Chuyện ở vùng này đã mấy ngày qua
Một người tên gọi Giêsu
Bị người ta giết rất là thảm thương”
Chúa liền nói với họ rằng:
“Các anh như vậy là không hiểu gì!
Chậm tin lời các tiên tri
Đấng Kitô phải ê chề khổ đau
Chịu nhiều nhục nhã, gian lao
Rồi sau đó mới được vào vinh quang”
Ba người đi tới gần làng
Hai ông nài ép khách cùng dừng chân
Khi Ngài cầm bánh tạ ơn
Hai ông tá hỏa, bội phần ngạc nhiên
Nhưng rồi Chúa biến mất liền
Hai ông trở lại Gia-liêm tức thì…
Cuộc đời cũng có lắm khi
Con không thấy được Chúa từ xung quanh
Trong luồng gió mát, trăng thanh
Khi mưa, nắng; giữa khúc quanh đời người
Trong nước mắt, giữa tiếng cười
Khi suy nghĩ, lúc bồi hồi sớm khuya
Trong câu hát, giữa lời thơ
Thành công, thất bại, hoặc là tang thương
Dẫu đời tám hướng, mười phương
Vẫn luôn có Chúa yêu thương đồng hành
TRẦM THIÊN THU
VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Tội lỗi, tha thứ, và yêu mến Apr 11

“Thiên Chúa nhớ lại Lòng Thương Xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời” (Lc 1:55).

Trình thuật Lc 7:36-50 kể câu chuyện người phụ nữ tội lỗi đã được tha thứ nhờ lòng yêu mến. Câu chuyện này đã gây “khó chịu” cho người thời đó. Thiết tưởng câu chuyện này cũng phù hợp để xét mình khi chúng ta cử hành Đại lễ Lòng Chúa Thương Xót.

Một hôm, có người thuộc nhóm Pharisêu mời Đức Giêsu dùng bữa với mình. Ngài đến nhà người Pharisêu ấy và vào bàn ăn. Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Đức Giêsu đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Ngài mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Ngài. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Ngài và lấy dầu thơm mà đổ lên.

Thánh sử Luca kể ngắn gọn nhưng đầy đủ chi tiết qua các danh từ và động từ: Nước mắt, tóc, dầu thơm; khóc, lau, hôn. Sự việc diễn ra khiến các thực khách phải chú ý. Bữa tiệc này hẳn phải là đại tiệc quan trọng và các thực khách hẳn là những người “tai mắt trong thiên hạ”. Thế mà lại có một người quấy rầy, mà người đó lại là một phụ nữ tội lỗi. Chắc chắn các đại gia kia vô cùng “ngứa mắt”.

Thấy vậy, ông Pharisêu (tức ông Simôn) đã mời Ngài liền nghĩ bụng: “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!” (Lc 7:39). Đức Giêsu biết tỏng ông ta nghĩ gì nên lên tiếng: “Này ông Simôn, tôi có điều muốn nói với ông!” (Lc 7:40a). Có lẽ ông không biết Đức Giêsu biết ý nghĩ của ông nên vẫn “vô tư” thưa: “Dạ, xin Thầy cứ nói”(Lc 7:40b). Đức Giêsu nói: “Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?” (Lc 7:41-42). Một cách so sánh thực tế và dễ hiểu. Vì thế, ông Simôn đáp ngay: “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn” (Lc 7:43a). Đức Giêsu bảo: “Ông xét đúng lắm” (Lc 7:43b).

Chúa Giêsu chỉ hỏi ý kiến ông Simôn bằng một câu hỏi tế nhị, nhưng chính câu hỏi đó lại “chạm” vào nhiều người – kể cả chúng ta ngày nay. Thật vậy, chúng ta thường có ác cảm hoặc định kiến với những người mà chúng ta cho rằng “họ không đạo đức hơn mình”, chúng ta cũng thường xuyên “chụp mũ” hoặc “gắn mác” cho người khác bằng nhiều kiểu. Nếu công tâm nhìn nhận thì chúng ta cũng rất “máu Pharisêu”!

Rồi Chúa Giêsu quay lại phía người phụ nữ, và Ngài nói với ông Simôn: “Ông thấy người phụ nữ này chứ?”(Lc 7:44a). Chúa Giêsu hỏi thật nhẹ nhưng chắc hẳn ông Simôn đau lắm nên cứng họng mà không nói được gì. Chúa Giêsu so sánh: “Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi” (Lc 7:44b-46). Ngài kết luận: “Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít” (Lc 7:47).

Rồi Đức Giêsu nói với người phụ nữ: “Tội của chị đã được tha rồi” (Lc 7:48). Người-phụ-nữ-tội-lỗi-xấu-xa kia đã được hưởng nhờ Lòng Chúa Thương Xót. Còn những người-tưởng-mình-tốt-lành thì đành “trở về tay trắng” (x. Lc 1:53). Hôm đó, trong số thực khách tại nhà ông Simôn đã có những người nghĩ bụng:“Ông này là ai mà lại tha được tội?” (Lc 7:49). Chúa Giêsu biết nhưng Ngài không biện hộ, Ngài chỉ nói với người-phụ-nữ-tội-lỗi: “Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an” (Lc 7:50).

Yêu mến nhiều thì được tha tội nhiều. Thiên Chúa có dư Lòng Thương Xót, Ngài chỉ cần chúng ta có thực sự yêu mến Ngài hay không. Ngài cho mà chúng ta không nhận thì Ngài cũng không ép, vì Ngài luôn tôn trọng tự do của chúng ta. Đức tin và đức mến cần thiết để được ơn tha thứ, được hưởng nhờ Lòng Chúa Thương Xót, và nhờ vậy mà tâm hồn được bình an.

TRẦM THIÊN THU

Tuần Bát Nhật Phục Sinh – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Mầu nhiệm Lòng Chúa Thương Xót Apr 10

(Chúa Nhật II Phục sinh, năm B)

Chúa Nhật II Phục sinh trước đây được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, nay được gọi là Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót (LCTX). Hai cách gọi nhưng vẫn là một, không hề đối nghịch. Vả lại, đó cũng chính là ước muốn của Chúa Giêsu đã mặc khải với Thánh Faustina.

Kinh thánh luôn nói đến LCTX, đặc biệt trong Phúc âm có một số dụ ngôn “điển hình” về Lòng Chúa Thương Xót: Người Samari Tốt Lành (Lc 10:30-37), Con Chiên Bị Mất (Lc 15:4-7), Đồng Bạc Bị Mất (Lc 15:8-10), và Người Cha Nhân Hậu (Lc 15:11-32).

Sách Công vụ Tông đồ cho biết: “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung” (Cv 4:32). Đó là một thế giới đại đồng lý tưởng biết bao!

Alleluia! “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:24). Các Tông đồ đã có thể can đảm “làm chứng Chúa Giêsu đã sống lại”, đó là “nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban” và “Ngài ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng” (Cv 4:33). Đặc biệt, “trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tuỳ theo nhu cầu” (Cv 4:34-35).

Điều đó chứng tỏ người ta đầy Ơn Chúa và thực sự có Chúa trong tâm hồn. Khi có Chúa trong mình, người ta biết khước từ cái-TÔI-đáng-ghét, biết sống đại lượng hơn, biết CHO hơn là NHẬN, biết sống VỚI và sống VÌ người khác. Đó là cách sống mầu nhiệm Đức Kitô phục sinh.

“Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” là điệp ca trong Tv 118, đặc biệt trong Tv 136. Tác giả Thánh vịnh cho biết: “Chúng xô đẩy tôi, xô cho ngã, nhưng Chúa đã phù trợ thân này. Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi” (Tv 118:13-14), bởi vì “tay hữu Chúa giơ cao, tay hữu Chúa đã ra oai thần lực” (Tv 118:15). Thiên Chúa luôn làm những việc lạ lùng, hoàn toàn “ngược đời”, ngoài sức tưởng tượng của con người: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường” (Tv 118:22). Vì “đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” và là “ngày Chúa đã làm ra”, nên chúng ta “hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:23-24).

Thánh sử Gioan nói: “Ai tin Đức Giêsu là Đấng Kitô, kẻ ấy đã được Thiên Chúa sinh ra. Và ai yêu mến Đấng sinh thành, thì cũng yêu thương kẻ được Đấng ấy sinh ra” (1 Ga 5:1). Tôi được Thiên Chúa tái sinh, bạn cũng được Thiên Chúa tái sinh, vậy tôi phải yêu thương bạn, nếu không thì tôi là chỉ người ích kỷ và nói dối. Yêu thương cũng là thương xót. Thánh Gioan phân tích: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được mình yêu thương con cái Thiên Chúa: đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành các điều răn của Ngài. Quả thật, yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người. Mà các điều răn của Người có nặng nề gì đâu, vì mọi kẻ đã được Thiên Chúa sinh ra đều thắng được thế gian” (1 Ga 5:2-4). Thánh Gioan nói “có nặng nề gì đâu”, thế nhưng lại không hề đơn giản, nếu không cầu nguyện và cố gắng thì không dễ thực hiện “luật nhẹ nhàng” ấy của Chúa.

Chúng ta thắng được thế gian là nhờ lòng tin, không tin thì không thể làm gì, điều này chứng tỏ lòng tin cực kỳ quan trọng, Chúa Giêsu đã luôn nhắc nhở về lòng tin. Thánh Gioan đặt vấn đề: “Ai là kẻ thắng được thế gian, nếu không phải là người tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa?” (1 Ga 5:5). Câu hỏi đó cũng chính là câu trả lời. Thánh Gioan giải thích luôn: “Chính Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến, nhờ Nước và Máu; không phải chỉ trong Nước mà thôi, nhưng trong Nước và trong Máu. Chính Thần Khí Chúa là chứng nhân, và Thần Khí Chúa là sự thật” (1 Ga 5:6). Máu và nước rất mềm nhưng lại không gì mạnh bằng, thiếu máu và nước thì không ai khả dĩ sống!

Chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” (Ga 20:19). Nói xong, Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn. Ngài cho các ông xem để trấn an và củng cố đức tin cho họ. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Ngài lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20:21). Rồi Ngài thổi hơi vào họ và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20:22-23). Ngài “sai đi” là Ngài trao trọng trách, nhưng Ngài cũng ban Chúa Thánh Thần để hỗ trợ chúng ta hằng ngày.

Chúa Giêsu đã dùng Máu và Nước để rửa sạch tội lỗi và tái sinh chúng ta, đồng thời ban Thần Khí Chúa để giúp chúng ta can đảm làm chứng về LCTX vô biên, vì Ngài biết chúng ta còn “yếu cơ” lắm!

Một người trong Nhóm Mười Hai là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!”. Ông Tôma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20:25). Động thái của ông Tôma cũng chính là động thái của chúng ta, vì đôi khi ngay lúc chúng ta nói tin nhưng hành động của chúng ta lại không chứng tỏ niềm tin đó, thậm chí là trái ngược!

Và tám ngày sau, các môn đệ lại có mặt trong nhà, lần này có cả ông Tôma. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Rồi Ngài bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20:27). Ông Tôma hết hồn và choáng váng, liền thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20:28). Ông không nói tin hay không, nhưng câu “lạy Chúa” của ông đã nói lên tất cả. Đức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Nếu chúng ta thật lòng tin Chúa-Giêsu-tử-nạn-và-phục-sinh thì chúng ta có phúc hơn Tông đồ Tôma đấy!

Thánh sử Gioan kết luận: “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Ngài” (Ga 20:30-31).

LCTX thật là mầu nhiệm biết bao! Chúng ta được tận hưởng LCTX thì chúng ta phải thực thi LCTX với tha nhân: “Phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4:32). Trong tâm tình đó, Tông đồ Giuđa gởi lời chúc tới tất cả chúng ta: “Chúc anh em được đầy tràn lòng thương xót, sự bình an và tình thương” (Gđ 1:2), và “hãy cố gắng sống mãi trong tình thương của Thiên Chúa, hãy chờ đợi lòng thương xót của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, để được sống đời đời” (Gđ 1:21).

Lạy Thiên Chúa hằng hữu, xin thương xót chúng con. Vì cuộc khổ nạn đau thương của Đức Giêsu Kitô, xin thương xót chúng con và toàn thế giới. Xin Thánh Faustina và Chân phước Gioan Phaolô II nâng đỡ chúng con luôn. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Lòng Chúa Thương Xót trong Kinh thánh Apr 10

LỜI NGỎ: Bài viết này dựa vào Tông thư “Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót” [Rich in Mercy (Anh ngữ), Dives in Misericordia (La ngữ)] của Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Đây là loại bài “cao cấp” nên rất khó lĩnh hội ngay, vì thế bạn cần đọc chậm và suy nghĩ nhiều theo linh hứng của Chúa Thánh Thần. Đừng đọc cả một lúc, mỗi lần đọc một ít. Chúc bạn được Chúa Thánh Thần linh hứng để hiểu đúng linh đạo này. Xin mời bạn!


Khi diễn tả Lòng Chúa Thương Xót (LCTX), các sách Cựu ước dùng 2 cách diễn tả đặc biệt, mỗi câu đều có một sắc thái khác nhau về ngữ nghĩa.

Trước hết, thuật ngữ “hesed” ngụ ý một thái độ sâu sắc của “lòng tốt”. Khi điều này được thiết lập giữa hai cá nhân, họ không chỉ muốn tốt cho nhau mà họ còn tin tưởng nhau bằng sự thầm hứa trong lòng, và trung thành với nhau. Vì “hesed” cũng có nghĩa về ân huệ hoặc yêu thương, điều này xảy ra đúng theo nền tảng của lòng trung thành. Sự thật là sự tận tụy được nói tới không chỉ là đặc tính luân lý mà còn hầu như là đặc tính pháp lý tạo sự khác biệt.

Cựu ước dùng từ “hesed” để nói về Thiên Chúa, điều này luôn xảy ra khi liên kết với giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập với dân Israel. Đối với Thiên Chúa, giao ước này là tặng phẩm và ân huệ dành cho dân Israel. Do đó, Thiên Chúa đã hứa tôn trọng giao ước, “hesed” cũng cần một ý nghĩa hợp pháp phù hợp với giao ước.

Lời hứa theo pháp lý về phần Thiên Chúa bắt buộc dân Israel không được vi phạm giao ước và phải tôn trọng các điều kiện của giao ước. Nhưng ở điểm này, “hesed” không là pháp lý, được mặc khải phương diện sâu xa hơn, cho thấy chính nó là gì ngay từ đầu, nghĩa là tình yêu đã được trao ban, tình yêu mạnh hơn sự phản trắcân sủng mạnh hơn tội lỗi.

Lòng tín trung này đối với con-gái-bất-trung-của-dân-tộc: “Ngay cả lũ chó rừng cũng biết chìa vú cho con bú, thế mà con gái dân tôi lại dữ dằn hung bạo như đà điểu chốn hoang địa khô cằn. Thiếu nữ dân tôi gian ác tầy trời vượt xa cả Xô-đôm tội lỗi; thành đó bị đổ nhào trong nháy mắt, chẳng cần ai phải nhúng tay vào” (Ac 4:3, 6). Tóm lại, đối với Chúa, đó là lòng tín trung đối với chính Ngài. Điều này trở thành hiển nhiên thường xuyên ở cả hai dạng “tận tụy” mà chúng ta gặp (ân sủng và tín trung), có thể được coi là trường hợp của phép thế đôi (hendiadys, cách dùng liên từ “và” giữa 2 từ ngữ), ví dụ: Xh 34:6; 2 Sm 2:6; 15:20; Tv 25 [24]:10; 40 [39]:11-12; 85 [84]:11; 138 [137]:2; Mi 7:20).

“Ngươi hãy nói với nhà Israen: Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Hỡi nhà Ítraen, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, mà vì danh thánh của Ta đã bị các ngươi xúc phạm giữa các dân các ngươi đã đi đến” (Ed 36:22). Do đó mà dân Israel, mặc dù nhiều tội lỗi vì vi phạm giao ước, không thể yêu cầu “hesed” của Thiên Chúa theo pháp lý, nhưng họ có thể và phải tiếp tục hy vọng và tin sẽ được điều đó, vì Thiên Chúa của giao ước thực sự “chịu trách nhiệm về tình yêu của Ngài”.

Thành quả của tình yêu này là ơn tha thứ và phục hồi ân sủng, tái lập giao ước nội tại. Từ ngữ thứ hai theo thuật ngữ Cựu ước xác định Lòng Thương Xót là “rahamim”.

Đây là sự khác biệt của “hesed”. Trong khi “sự tận tụy” làm nổi bật lòng tín trung của “trách nhiệm đối với tình yêu của mình” (theo nghĩa nam tính), “rahamim” theo chính nguyên ngữ đã bao hàm tình yêu của người mẹ (rehem = tử cung).

Từ hệ lụy nguồn gốc và sâu xa – thực sự là sự kết hợp – liên kết người mẹ với đứa con làm nảy sinh mối quan hệ đặc biệt với đứa con, một tình yêu đặc biệt. Với tình yêu này, người ta có thể nói rằng đó là “hoàn toàn cho không”, vô điều kiện, và về phương diện này nó cấu thành sự cần thiết nội tại: Tình trạng cấp bách của con tim.

Như vậy, đó là sự biến đổi “nữ tính” của lòng tín trung nam tính đối với chính nó được diễn tả bằng từ ngữ “hesed”. Đối với nền tảng tâm lý này, “rahamim” phát sinh một loạt cảm xúc, kể cả lòng tốt và dịu dàng, kiên nhẫn và hiểu biết, nghĩa là sẵn sàng tha thứ.

Cựu ước quy cho Thiên Chúa các đặc tính này khi dùng thuật ngữ “rahamim” để nói về Ngài. Chúng ta đọc thấy trong sách Isaia: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49:15).

Tình yêu này là lời cảm tạ tín thành đối với sức mạnh mầu nhiệm của tình mẫu tử, được diễn tả trong Cựu ước bằng nhiều cách: Cứu thoát khỏi mọi nguy hiểm, nhất là thoát khỏi kẻ thù; tha thứ tội lỗi – của từng người và của cả toàn dân Israel – cuối cùng là sẵn sàng làm trọn lời hứa và niềm cậy trông, mặc dù nhân loại bất trung, như chúng ta thấy trong sách Hôsê: “Ta sẽ chữa chúng khỏi tội bất trung, sẽ yêu thương chúng hết tình, vì cơn giận của Ta sẽ không còn đeo đuổi chúng” (Hs 14:5).

Theo cách nói của Cựu ước, chúng ta cũng thấy những cách diễn tả khác, ngụ ý nhiều cách đối với ngữ cảnh cơ bản. Nhưng cả hai cách nói trên đều đáng lưu ý đặc biệt, cho thấy rõ phương diện theo thuyết hình người nguyên thủy (original anthropomorphic aspect): Khi diễn tả LCTX, các tác giả Kinh thánh dùng cách nói phù hợp với lương tâm và kinh nghiệm của những người đương thời.

Thuật ngữ Hy Lạp theo bản dịch “Bảy Mươi” (*) không cho thấy như bản cổ ngữ Do Thái: Vì thế nó không đưa ra tất cả sự khác biệt về ngữ nghĩa riêng đối với văn bản gốc. Dù ở mức nào, Tân ước cũng dựa vào sự phong phú và độ sâu ghi dấu cổ.

Theo cách này, chúng ta thừa hưởng từ Cựu ước – theo cách tổng hợp – không chỉ phong phú về cách diễn tả được các sách đó dùng để xác định LCTX, mà còn về “tâm lý” của Thiên Chúa theo thuyết hình người: Hình ảnh về tình yêu khắc khoải của Ngài, khi tiếp xúc với điều ác, nhất là với tội lỗi của cá nhân và dân tộc, được biểu hiện là LTX.

Hình ảnh này được tạo nên không chỉ về ngữ cảnh tổng quát của động từ “hanan” mà còn về ngữ cảnh của từ ngữ “hesed” và “rahamim”. Thuật ngữ “hanan” diễn tả một khái niệm rộng hơn, thực sự có nghĩa là cách biểu hiện của ân sủng, liên quan một bẩm chất kiên định (constant predisposition) là khoan hồng, nhân từ và thương xót.

Thêm vào các yếu tố ngữ nghĩa, khái niệm của Cựu ước về LCTX cũng được tạo nên từ những gì bao hàm trong động từ “hamal”, theo nghĩa đen là “tha chết” (một kẻ thù chiến bại) nhưng cũng “tỏ lòng thương xót và trắc ẩn”, vì thế mà tha thứ và miễn trừ tội lỗi.

Còn có thuật ngữ “hus” diễn tả lòng thương xót và trắc ẩn, nhưng đặc biệt mang ý nghĩa xúc động. Các thuật ngữ này xuất hiện ít hơn trong các văn bản Kinh thánh khi diễn tả LCTX.

Ngoài ra, nên chú ý từ ngữ “emet” đã được nói tới. Nó có nghĩa ban đầu là “sự vững chắc, sự an toàn” (theo Hy ngữ của bản Bảy Mươi là “chân lý”) và khi đó có nghĩa là “lòng thành tín”. Theo cách này, nó có vẻ liên kết với ngữ nghĩa riêng đối với thuật ngữ “hesed”. Ở cả 2 nơi, đó là trường hợp của “hesed”, nghĩa là lòng thành tín mà Thiên Chúa thể hiện tình yêu của Ngài đối với dân, trung thành với điều Ngài hứa là sẽ làm trọn trong tình mẫu tử của Mẹ Thiên Chúa (x. Lc 1:49-54), như Kinh thánh nói: “Chúa sẽ trọn bề nhân nghĩa với tổ tiên và nhớ lại lời xưa giao ước” (Lc 1:72). Đây cũng là trường hợp của LCTX theo nghĩa của từ “hesed”, theo mức của những câu theo sau, những câu mà Dacaria nói về “LTX nhân hậu của Thiên Chúa”, diễn tả rõ ràng nghĩa thứ hai, nghĩa là “rahamim” (bản La ngữ: Viscera Misericordiae), đồng hóa LCTX với tình thương của người mẹ.

CỰU ƯỚC

Cựu ước hiểu LCTX bằng cách dùng nhiều thuật ngữ có ý nghĩa liên quan, khác nhau bằng nội dung riêng, nhưng có thể nói được rằng chúng đều đồng quy từ những hướng khác nhau theo nghĩa cơ bản, diễn tả sự phong phú nổi bật và gần gũi với con người với các phương diện khác nhau.

Cựu ước khuyến khích mọi người chịu đựng nỗi bất hạnh, nhất là nỗi đau khổ do tội lỗi – như dân Israel được Thiên Chúa hứa ban giao ước – để cầu xin LTX của Thiên Chúa, và làm cho những nỗi bất hạnh đó trở thành niềm hy vọng, nhắc nhở về LCTX trong những lúc thất bại và mất niềm tin.

Cựu ước cũng luôn dâng lời tạ ơn về LCTX, thể hiện trong đời sống của toàn dân và mỗi cá nhân. Theo cách này, LCTX tương phản với sự công thẳng của Thiên Chúa theo nghĩa nào đó, và trong nhiều trường hợp được thể hiện không chỉ mạnh hơn mà còn sâu sắc hơn công lý. Cũng vậy, tình yêu tác động tới công lý, và cuối cùng thì công lý phục vụ tình yêu.

Cựu ước còn dạy rằng, dù công lý là một nhân đức đích thực nơi con người, và nơi Thiên Chúa biểu hiện sự hoàn hảo trong suốt, do đó mà tình yêu “lớn hơn” công lý – lớn hơn về ý nghĩa nguyên thủy và cơ bản.

Tính ưu việt và nổi trội của tình yêu có liên quan công lý – đây là dấu ấn của toàn bộ mặc khải – được mặc khải chính xác qua LTX. Điều này có vẻ minh nhiên đối với các tác giả thánh vịnh và các tiên tri mà công lý kết thúc theo nghĩa Ơn cứu độ được hoàn tất bởi chính Thiên Chúa và LCTX [Tv 40 (39):11; 98 (97):2; Is 45:21; Is 51:5 & 8; Is 56:1].

LCTX khác với công lý, nhưng không đối lập, nếu chúng ta nhận theo lịch sử con người – như Cựu ước đã thể hiện chính xác – sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa đã tự liên kết với thụ tạo của Ngài bằng một tình yêu đặc biệt.

Theo bản chất, tình yêu loại trừ thù hận và ý xấu đối với người mà Ngài đã trao tặng phẩm là chính mình: “Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Ngài đã làm ra” (Kn 11:24). Những từ này cho thấy cơ bản thâm sâu của mối quan hệ giữa công lý và LTX nơi Thiên Chúa, trong mối quan hệ của Ngài với con người và thế giới.

Những lời đó cho chúng ta biết rằng chúng ta phải tìm kiếm nguồn gốc của việc trao ban sự sống và các lý do thân thiết đối với mối quan hệ này bằng cách trở lại từ “sự bắt đầu”, trong chính mầu nhiệm sáng tạo. Những lời đó báo trước Giao ước cũ (Cựu ước), sự mặc khải viên mãn của Thiên Chúa, Đấng mệnh danh là “tình yêu” (1 Ga 4:15 & 16).

Nối kết với mầu nhiệm sáng thế là mầu nhiệm của sự chọn lựa, theo cách đặc biệt mà hình thành lịch sử con người có người cha tâm linh là Abraham nhờ đức tin. Do đó, qua dân tộc này mà các hành trình xuyên suốt lịch sử Cựu ước và Tân ước, mầu nhiệm của sự chọn lựa nói đến mỗi người trong đại gia đình nhân loại.

“Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31:3). “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, giao ước hoà bình của Ta cũng chẳng chuyển lay, Đức Chúa là Đấng thương xót ngươi phán như vậy” (Is 54:10). Sự thật này, đã từng được công bố với dân Israel, liên quan viễn cảnh của toàn lịch sử con người, cả viễn cảnh thời gian và thế mạt (Gn 4:2, 11; Tv 145 (144):9; Hc 18:8-14; Kn 11:23-12:1).

Đức Kitô mặc khải Chúa Cha trong cùng viễn cảnh và theo nền tảng đã được chuẩn bị, như nhiều trang Cựu ước mô tả. Cuối mặc khải này, vào đêm trước khi chịu chết, Chúa Giêsu nói với tông đồ Philipphê lời đáng ghi nhớ này: “Thầy ở với anh em bấy lâu, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9).

TÂN ƯỚC

Ngay đầu Tân ước, hai tiếng nói vang lên trong Phúc âm thánh Luca phù hợp việc liên quan LCTX – một sự hài hòa vang dội cả truyền thống Cựu ước. Đức Maria vào nhà ông Dacaria, tán tụng Chúa bằng cả linh hồn vì LXT của Chúa, điều mà “từ đời nọ đến đời kia” được trao ban cho những ai kính yêu Ngài.

Sau đó, khi Đức Mẹ nhớ lại sự tuyển chọn dân Israel, Đức Mẹ đã tuyên xưng LCTX mà Ngài đã chọn Đức Mẹ là người được mọi thời khen là “đầy ơn phúc” (x. Lc 1:49-54). Khi Gioan Tẩy giả chào đời, ông Dacaria ca tụng Thiên Chúa của Israel và tôn vinh Ngài vì đã tỏ LTX như đã hứa với các tổ phụ và vì đã nhớ giao ước thánh của Ngài (x. Lc 1:72). Đây cũng là trường hợp của LCTX theo nghĩa của từ “hesed”, điều mà ông Dacaria nói về “lòng nhân hậu của Thiên Chúa”, được diễn tả rõ theo nghĩa thứ hai, nghĩa là “rahamim” (La ngữ là viscera misericordiae), xác định LCTX như tình mẫu tử.

Trong giáo huấn của chính Chúa Giêsu, hình ảnh này kế thừa từ Cựu ước trở nên đơn giản hơn và sâu xa hơn. Đây có thể là điều hiển nhiên nhất trong dụ ngôn về đứa con hoang đàng (x. Lc 15:14-32). Dù từ ngữ “lòng thương xót” không xuất hiện, nhưng vẫn diễn tả rõ ràng bản chất của LCTX.

Đó là mầu nhiệm của LCTX, một kịch bản thâm thúy thể hiện Tình Cha đối với đứa con hoang đàng và tội lỗi. Người con đó không chỉ được hồi phục quyền làm con mà còn được tiếp tục thừa kế gia sản của người cha dù đã ăn chơi phung phí hết phần gia sản riêng. Ăn năn và trở về, nhận lỗi và xin lỗi, tất cả lại trở về nguyên trạng của người con. Tình Chúa quá bao la và kỳ diệu!

“Khi tiêu xài hết mọi thứ”, người con “bị túng quẫn”, nhất là “nạn đói xảy ra trong vùng đó” đến nỗi người con “thèm ăn cám heo” mà cũng không được ăn, thế là người con phải quyết định về nhà cha: “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà mình ở đây lại chết đói!” (Lc 15:17). Việc trở về của người con có thể chỉ là vạn bất đắc dĩ, nhưng ít nhiều gì anh cũng nhận thấy mình bất xứng và chỉ dám xin cha coi mình như tôi tớ: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy” (Lc 15:18-19). Thế nhưng anh không thể tin những gì anh thấy: Người cha ra ôm anh vào lòng, làm tiệc mừng, cho mang đồ mới và giày mới. Dụ ngôn này đã “chạm” đến giao-ước-tình-yêu, “chạm” đến mọi tình trạng mất ân sủng và mọi tội lỗi.

Theo nhận thức, người con này lý luận để khả dĩ thấy rằng mình đã hoàn toàn bất xứng, không còn mối quan hệ mật thiết của tình phụ tử. Do đó mà người con quyết định đứng dậy và trở về với cha. Dám trở về là can đảm, vì dù sao cũng đã bẽ mặt và nhục nhã, nhưng không mặc cảm tội lỗi. Người con hoang đàng nhận thấy mình không có quyền đòi hỏi gì nữa, không đáng là con, may lắm cũng chỉ mong được làm người giúp việc trong nhà cha mình thôi. Người con đã nhận thức đầy đủ về tình trạng bất xứng của mình và “đáng đời” thế nào theo công lý. “Quyết định dứt khoát trở về” là động thái rất quan yếu. Lúc đó, con người phải giằng co âm thầm rất mãnh liệt. Đó chính là động thái trưởng thành trong đức tin – tin vào LCTX và tin mình được thứ tha.

Trong dụ ngôn “người con hoang đàng”, thuật ngữ “công bình” không được dùng, và trong nguyên bản cũng không dùng từ “lòng thương xót”. Mối quan hệ giữa công bình và yêu thương được biểu hiện như LCTX, đồng thời được khắc sâu bằng tính chính xác trong nội dung của dụ ngôn.

Rõ ràng hơn là tình yêu được biến đổi thành LCTX khi cần có quy luật chính xác của sự công bình. Người con hoang đàng không còn xứng đáng sau khi ăn chơi sa đọa, trắng tay khi trở về với cha, nhưng được cha tha bổng, và dần dần người con được vun đắp về vật chất và tinh thần, dù có thể không bao giờ được đầy đủ như xưa. Tình phụ tử được khôi phục là nhờ tính cao thượng và tình thương của người cha.

Mối quan hệ như vậy không bao giờ có thể bị thay đổi hoặc bị phá hủy bằng bất cứ động thái nào. Người con hoang đàng biết vậy và biết mình phải làm gì để chuộc lỗi lầm, đó là lúc người ta biết rõ mình để có thể sống khiêm nhường hơn.

Hình ảnh người con hoang đàng giúp chúng ta nhận biết LCTX là gì và như thế nào. Chắc chắn đây là mặc khải về Thiên Chúa Cha, giúp chúng ta tái phát hiện cách nhìn của Cựu ước về LCTX luôn mới, vừa đơn giản vừa sâu xa.

Người cha của đứa con hoang đàng luôn trung thành với cương vị làm cha, trung thành với tình yêu bao la mà ông luôn dành cho con mình. Do đó mà người cha luôn chờ đợi và sẵn sàng tha thứ nếu đứa con biết trở về. Tình yêu ấy là LTX, kỳ lạ đến nỗi không ai khả dĩ hiểu hết. Người cha ấy đã tha thứ thì không còn phân biệt gì so với đứa con vẫn ngoan ngoãn ở với mình. Người con ngoan ngoãn đã so đo nhưng người cha đã phân tích rõ ràng để huynh đệ vẫn hiếu thuận với nhau.

Người cha trung tín với chính mình – một đặc điểm mà Cựu ước dùng thuật ngữ “hesed” – ngay khi diễn tả bằng cách thể hiện tình phụ tử. Thật vậy, chúng ta đọc thấy rằng khi người cha thấy đứa con hoang đàng trở về, ông đã chạnh lòng trắc ẩn, chạnh LTX, chạy ra đón nó, ôm nó trước khi nó ôm mình, rồi hôn nó (Lc 15:20). Chắc chắn ông làm điều này vì yêu thương con sâu sắc lắm, và điều này cũng bày tỏ lòng đại lượng dành cho con, lòng đại lượng đó đã khiến người con lớn phải tức giận. Lời người cha nói với người con lớn giản dị mà thâm sâu: “Chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15:32).

Trong Phúc âm của thánh sử Luca có dụ ngôn Con Chiên Lạc (x. Lc 15:4-7) và dụ ngôn Đồng Bạc Bị Mất (x. Lc 15:8-9). Mỗi lần đều có mức nhấn mạnh tương tự về niềm vui có trong trường hợp của đứa con hoang đàng (x. Lc 15:11-32). Lòng thành tín của người cha hoàn toàn được tập trung vào tính nhân bản đối với đứa con hư hỏng, về nhân phẩm của đứa con.

Điều này giải thích mọi niềm vui nỗi mừng lúc đứa con trở về nhà. Do đó người ta có thể nói rằng tình thương dành cho đứa con là tình yêu xuất phát từ chính bản chất tình phụ tử, theo cách thức bắt buộc người cha quan tâm đến nhân phẩm của đứa con. Mối quan tâm này là thước đo tình yêu thương của người cha, tình yêu thương mà thánh Phaolô diễn tả: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được. Ơn nói tiên tri ư? Cũng chỉ nhất thời. Nói các tiếng lạ chăng? Có ngày sẽ hết. Ơn hiểu biết ư? Rồi cũng chẳng còn” (1 Cr 13:4-8).

Lòng Thương Xót – như Đức Kitô đã bày tỏ trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu (hoặc dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng) – có dạng nội tại của tình yêu trong Tân ước gọi là “agape”. Tình yêu thương này có thể đạt tới mọi đứa con hoang đàng, tới mọi nỗi khổ đau của con người, tới cả nỗi khốn khổ luân lý và tội lỗi.

Khi điều này xảy ra, con người là khách thể của LTX mà không hề cảm thấy bị hạ nhục, mà cảm thấy lại được tìm thấy và “được phục hồi giá trị”. Người cha bày tỏ niềm vui mừng đối với đứa con vừa “được tìm thấy” và như “chết sống lại”.

Niềm vui này thể hiện cái tốt nguyên trạng, dù đứa con hoang đàng cũng không thể ngăn cản tình cha thương con. Niềm vui đó còn thể hiện cái tốt lại được tìm thấy, khi đứa con trở về thú nhận tội lỗi. Điều xảy ra giữa mối quan hệ phụ tử trong dụ ngôn của Chúa Giêsu không được đánh giá “từ bên ngoài”. Định kiến của chúng ta về LTX đa số là hậu quả của việc chúng ta đánh giá theo bề ngoài.

Thi thoảng điều này xảy ra bằng cách theo phương pháp đánh giá mà chúng ta thấy trong LTX vượt trên mọi mối quan hệ bất bình đẳng giữa người trao LTX và người nhận LTX. Do đó, chúng ta vội vã “chiết khấu” LTX mà “thu nhỏ” người nhận, cho nên chúng ta xúc phạm nhân phẩm người khác.

Dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng cho thấy thực tế khác hẳn: Mối quan hệ của LTX dựa trên kinh nghiệm chung của cái tốt là con người, kinh nghiệm chung của phẩm chất đúng nơi con người. Kinh nghiệm chung này làm cho đứa con hoang đàng bắt đầu tự nhận thấy mình và hành động của mình bằng sự thật trọn vẹn (đó là khiêm nhường). Mặt khác, vì chính lý do này mà đứa con trở thành cái tốt riêng của người cha: Người cha thấy rõ cái tốt đạt được nhờ mầu nhiệm của chân lý và yêu thương để người cha có vẻ quên mọi tội lỗi mà đứa con đã phạm.

Hoán cải là cách diễn tả cụ thể nhất về tác dụng của tình yêu và sự hiện hữu của LTX trong thế giới loài người. Dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng diễn tả theo cách đơn giản nhưng sâu sắc trong thực tế cải tà quy chánh.

Ý nghĩa riêng và đúng của LTX không chỉ bao gồm trong cách nhìn, mà còn xuyên suốt và đầy lòng trắc ẩn: LTX được diễn tả về phương diện đúng và riêng khi LTX phục hồi để đánh giá, thúc đẩy và thu hút những điều tốt từ mọi dạng của điều xấu hiện hữu trong thế giới và trong con người. Hãy hiểu theo cách này, LTX cấu thành nền tảng của sứ vụ cứu độ và sức mạnh trong sứ vụ của Đức Kitô.

Các tông đồ và các môn đệ của Ngài đã hiểu và thực hành LTX như cách của Ngài. LTX không bao giờ ngừng mặc khải, bằng tâm khảm và trong hành động, như bằng chứng hùng hồn về tình yêu: “Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (x. Rm 12:21). Khuôn mặt đích thực của LTX phải được mặc khải theo cách mới. Mặc dù có nhiều định kiến, LTX vẫn thực sự rất cần thiết trong thời đại chúng ta.

LCTX được mặc khải trên Thánh giá và trong sự Phục sinh

Sứ vụ của Đức Kitô và hoạt động của Ngài giữa nhân loại kết thúc bằng cái chết trên Thập giá và sự Phục sinh. Chúng ta phải thẩm thấu sự kiện cuối cùng này, nhất là theo ngôn ngữ của Công đồng Vatican II xác định là Mầu nhiệm Vượt qua (Mysterium Paschale) – nếu chúng ta muốn diễn tả sâu sắc sự thật về LTX, như được mặc khải trong lịch sử cứu độ.

Ở mức cân nhắc này, chúng ta phải tiếp cận Tông thư Redemptor Hominis (Gioan Phaolô II, 1978). Thật vậy, thực tế của ơn cứu độ, theo chiều kích con người, đã mặc khải những điều chưa từng nghe biết – về sự cao cả của con người, như Bài Exsultet (công bố trong đêm Vọng Phục Sinh) mô tả: “Tội hồng phúc đã ban cho chúng ta Đấng cứu chuộc rất cao sang”, ngay lúc chiều kích cứu độ của Thiên Chúa làm cho chúng ta có thể hồi sinh theo cách kinh nghiệm nhất và lịch sử nhất, để tiết lộ chiều sâu của tình yêu không không chùn bước trước sự hy sinh khác thường của Chúa Con, để thỏa mãn lòng trung thành của Chúa Cha đối với loài người, tạo dựng chúng ta theo hình ảnh Ngài và chọn chúng ta từ khởi nguyên, nơi Chúa Con, đối với ân sủng và vinh quang.

Các sự kiện của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, thậm chí trước đó, trong lời cầu nguyện tại Ghết-si-ma-ni, giới thiệu sự thay đổi nền tảng của toàn bộ sự mặc khải về tình yêu và LTX trong sứ vụ của Đức Kitô. Ngài “thi ân giáng phúc, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế” (Cv 10:38), đồng thời “chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 9:35), chính Ngài thực hiện LTX và kêu gọi LTX, khi Ngài bị bắt, bị đối xử tệ, bị kết án, bị đánh đòn, đội vòng gai, bị đóng đinh vào Thập giá và chết trong đau đớn vô cùng (x. Mc 15:37; Ga 19:30).

Lúc đó Ngài xứng đáng nhận LTX từ những người mà Ngài đã làm tốt cho họ, nhưng Ngài đã không nhận được. Ngay cả những người thân tín nhất cũng không thể bảo vệ Ngài khỏi kẻ ác. Ở giai đoạn cuối cùng của sứ vụ, các lời tiên tri, nhất là của tiên tri Isaia nói về Người Tôi Tớ Đau Khổ, hoàn toàn ứng nghiệm nơi Đức Kitô: “Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53:5).

Đức Kitô, là người chịu đau khổ trong Vườn Cây Dầu và trên đồi Can-vê, đã thưa với Chúa Cha rằng Ngài đã thể hiện tình yêu của Chúa Cha cho mọi người. Nhưng Ngài cũng không được thoát khỏi đau khổ và cái chết trên Thập giá: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5:21).

Thánh Phaolô viết về chiều kích thực tế của ơn cứu độ. Chính ơn cứu độ này là mặc khải tính thánh thiêng của Thiên Chúa, Đấng hoàn thiện, đầy đủ công lý và yêu thương, vì công lý dựa trên yêu thương.

Trong cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Kitô, Chúa Cha không tha chính Con mình, nhưng “vì chúng ta mà tự nhận thân phận như tội nhân”, công lý được diễn tả, Đức Kitô chịu đau khổ và chấp nhận Thập giá vì tội lỗi nhân loại. Điều này cấu thành “sự dồi dào” của công lý, vì tội lỗi của loài người “được đền bù” nhờ sự hy sinh của Thiên-Chúa-Làm-Người.

Công lý này là “tiêu chuẩn của Thiên Chúa”, hoàn toàn nhiệm xuất từ tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, và sinh hoa kết trái trong tình yêu. Vì thế, công lý của Chúa mặc khải trên Thánh giá của Đức Kitô là “chiều kích cùa Thiên Chúa” vì nhiệm xuất từ tình yêu và được hoàn tất trong tình yêu, sinh ra hoa trái ơn cứu độ. Ơn cứu độ liên quan sự mặc khải về LTX viên mãn.

Chiều kích ơn cứu độ được đặt trong hiệu quả không chỉ bằng cách đem lại công lý để chịu đựng tội lỗi, mà còn phục hồi tình yêu nơi con người, vì chính con người đã từng viên mãn sự sống và sự thánh thiện đến từ Thiên Chúa. Theo cách này, ơn cứu độ liên quan sự mặc khải về LTX một cách viên mãn.

Mầu nhiệm Vượt qua là tột đỉnh của sự mặc khải này và hiệu của cùa LTX, có thể biện hộ cho con người, phục hồi công lý theo nghĩa của mệnh lệnh cứu độ mà Thiên Chúa đã muốn từ khi tạo dựng nhân loại. Cuộc khổ nạn của Đức Kitô nói theo cách đặc biệt đối với con người, không chỉ với người có niềm tin.

Những người không có niềm tin cũng có thể khám phá nơi Ngài về mối liên kết với số phận con người, cũng như sự hài hòa trọn vẹn của sự dấn thân vô vị lợi vì con người, vì chân lý và vì yêu thương. Nhưng chiều kích của Mầu nhiệm Vượt qua còn thâm thúy hơn. Thập giá trên đồi Can-vê, nơi mà Đức Kitô đã đối thoại lần cuối với Chúa Cha, nổi bật lên từ chính trái tim yêu thương của con người, vốn được tạo thành giống hình ảnh Thiên Chúa, đã được làm thành tặng phẩm theo kế hoạch đời đời của Thiên Chúa.

Như Đức Kitô đã mặc khải, Thiên Chúa không chỉ thân thiện với thế giới với tư cách Tạo hóa và nguồn hiện hữu, mà Ngài còn là Cha: Ngài liên kết với con người, và Ngài mời gọi họ hiện hữu trong thế giới vô hình, bằng mối liên kết thân mật hơn. Đó là tình yêu không chỉ tạo điều tốt mà còn cho tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Vì Ngài yêu thương và muốn trao ban chính Ngài. Và Ngài cũng mời gọi chúng ta chia sẻ chân lý và tình yêu nơi Thiên Chúa.

Tín điều Công đồng Nicê-Constantinopolitan xác nhận: “Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật”. Thập giá là bằng chứng tuyệt vời về giao ước của Thiên Chúa đối với nhân loại – mỗi con người đều là giao ước này. Thập giá là giao ước mới đã được thiết lập trên đồi Can-vê, không hạn chế với một người nào.

Thập giá của Đức Kitô nói gì với chúng ta? Thập giá lại cho chúng ta một sứ điệp quan trọng: “Đức Kitô phục sinh”.

Những người thấy ngôi mộ trống trở thành nhân chứng về Đức Kitô phục sinh. Nhưng ngay trong vinh quang Thiên Chúa, Thập giá vẫn còn. Thập giá đó vẫn nói và không ngừng nói về Thiên Chúa Cha, Đấng tuyệt đối trung tín với tình yêu đời đời của Ngài đối với con người: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16).

LTX là tình yêu tuyệt đối. Tin vào tình yêu này là tin vào LCTX. Tin vào Chúa Con bị đóng đinh là “thấy Chúa Cha” (x. Ga 14:9), nghĩa là tin tình yêu đó hiện hữu trong thế giới và tình yêu này mạnh hơn mọi điều ác nơi mọi người, nơi nhân loại, hoặc cả thế gian. LCTX là chiều kích tuyệt đối của tình yêu.

Tình yêu mạnh hơn tử thần và mạnh hơn tội lỗi

Thập giá của Đức Kitô trên đồi Can-vê cũng là nhân chứng đối với sức mạnh của sự ác chống lại Con Thiên Chúa, chống lại một người con trong những người con của nhân loại, con người đó có bản chất vô tội, chống lại những người sinh ra trong thế gian chưa bị hoen ố vì sự bất tuân phục của Adam và ảnh hưởng Tội nguyên tổ. Và ở đây, chính nơi Đức Kitô, công lý được thực hiện đối với tội lỗi bằng giá máu hy sinh của Ngài, bằng cách “vâng lời cho đến chết trên Thập giá” (Pl 2:8).

“Ngài chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Ngài thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Ngài” (2 Cr 5:21). Công lý cũng được đem tới để liên quan cái chết, mà từ đầu lịch sử nhân loại đã bị nối kết với tội lỗi. SỰ chết đã được công lý thực hiện bằng giá của cái chết của Con Người không hề có tội và chiến thắng bằng cái chết: “Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng! Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi? Tử thần có độc là vì tội lỗi, mà tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật. Nhưng tạ ơn Thiên Chúa, vì Ngài đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (x. 1 Cr 15:54-57).

Chúa Con, Đấng đồng bản thể với Chúa Cha, đã hoàn lại công lý cho Thiên Chúa bằng chính Thập giá, đồng thời mặc khải LTX, đó là tình yêu trái ngược với những gì cấu thành nguồn gốc điều ác trong lịch sử nhân loại: chống lại tội lỗi và sự chết.

Thập giá là sự hạ mình sâu thẳm nhất của Thiên Chúa đối với loài người và những số phận bất hạnh của loài người – nhất là những lúc khó khăn và đau khổ. Thập giá như là “cách tiếp xúc” của tình yêu vĩnh hằng đối với những vết thương của loài người; đó là sự hoàn tất trọn vẹn của chương trình cứu độ nhân loại mà Đức Kitô đã bày tỏ tại Đền Thờ ở Nadarét (x. Lc 4:18-21) và đã được ngôn sứ Gioan Tẩy giả lặp lại (x. Lc 7:20-23).

Theo cách nói của tiên tri Isaia (x. Is 35:5; 61:1-3), chương trình này cốt ở việc mặc khải về LCTX đối với người nghèo, người đau khổ, tội nhân, người mù, người bị đàn áp và bị bóc lột. Trong Mầu nhiệm Vượt qua, các giới hạn của “sự dữ đa chiều” mà nhân loại “ăn chia” đã bị vượt qua: Thật vậy, Thập giá của Đức Kitô làm chúng ta hiểu căn nguyên sâu xa của sự dữ, đã bị gắn sâu trong tội lỗi và sự chết; vì thế Thập giá trở nên dấu hiệu tận thế (eschatological sign).

Chỉ trong sự hoàn tất cuối cùng và sự canh tân cuối cùng của thế giới mà tình yêu sẽ chiến thắng, trong những người Chúa chọn, hoa trái chín muồi của vương quốc sự sống và vinh quang bất tử. Việc thiết lập sự hoàn tất cuối cùng này có nơi Thập giá của Đức Kitô và trong cái chết của Ngài.

“Chúa Giêsu đã sống lại vào ngày thứ ba” (x. 1 Cr 15:4), điều đó cấu thành dấu hiệu cuối cùng của sứ vụ cứu độ, dấu hiệu hoàn tất toàn bộ mặc khải về LCTX trong thế-gian-bị-cái ác-chế-ngự. Đồng thời cấu thành dấu hiệu tiên báo “trời mới và đất mới” (Kh 21:1), lúc “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21:4).

Trong sự hoàn tất cuối cùng, LCTX sẽ được mặc khải là tình yêu, trong khi trên thế gian, trong lịch sử nhân loại, cùng với lịch sử của tội lỗi và sự chết, tình yêu phải được mặc khải là LCTX và cũng phải được hiên thực hóa là LCTX. Chương trình cứu độ của Đức Kitô, chương trình của LTX, trở thành chương trình của Dân Ngài, chương trình của Giáo hội.

Ngay tại trung tâm của chương trình đó luôn có Thập giá, vì chính nơi Thập giá mà sự mặc khải LCTX đạt tới đỉnh cao. Khi “những cái cũ bị tẩy sạch” (x. Kh 21:4), Thập giá vẫn còn được dẫn chứng những từ ngữ trong sách Khải huyền của Thánh Gioan: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3:20).

Theo cách đặc biệt, Thiên Chúa cũng mặc khải LTX khi Ngài mời gọi nhân loại “thương xót” Con Một Ngài là Đấng-bị-đóng-đinh. Đức-Kitô-bị-đóng-đinh chính là Ngôi-Lời-không-qua-đi: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mt 24:35), và Ngài là người “đứng trước cửa và gõ vào cửa lòng của mỗi người” (x. Kh 3:20), không hạn chế tự do nhưng tìm cách rút ra từ chính lòng yêu chuộng tự do, đó không chỉ là hành động đoàn kết với Con-Người-chịu-đau-khổ (Đức Kitô), mà còn là dạng LTX được mỗi người trong chúng ta thể hiện với Con của Chúa Cha hằng hữu.

Trong toàn bộ chương trình cứu độ của Đức Kitô, trong toàn bộ mặc khải về LTX qua Thập giá, phẩm giá con người có thể được tôn trọng hơn và được đề cao hơn, vì đạt được LTX. Đức Kitô đã xác định: “Các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:40).

Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giêsu nói đến một trong Bát Phúc (Tám mối phúc thật): “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7). Điều đó cấu thành một bản tổng hợp của toàn bộ Tân ước, toàn bộ “sự trao đổi tuyệt vời” (admirable commercium) bao gồm trong đó. Sự trao đổi này là luật của kế hoạch cứu độ, luật này vừa đơn giản, vừa mạnh mẽ, vừa dễ dàng.

Thể hiện ngay từ đầu những gì mà “trái tim con người” có thể thương xót, những từ ngữ này không từ Bài Giảng Trên Núi mặc khải viễn cảnh mầu nhiệm thẳm sâu của Thiên Chúa: Tính đồng nhất bí ẩn của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, trong đó tình yêu bao gồm công lý, đặt trong LTX, mặc khải sự hoàn hảo của công lý.

Mầu nhiệm Vượt qua là Đức Kitô ở đỉnh cao của sự mặc khải về mầu nhiệm bí ẩn của Thiên Chúa. Đó là những lời được nói đã hoàn toàn nên trọn: “Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14:9). Thật vậy, Đức Kitô là Đấng mà Chúa Cha “cũng không tha” (Rm 8:32) vì nhân loại, Đấng phải chịu khổ hình Thập giá đã không được nhân loại thương xót, Đấng đã mặc khải tình yêu viên mãn trong sự phục sinh của Ngài mà Chúa Cha đã dành cho Ngài, nơi Ngài, và cho nhân loại: “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống” (Mc 12:27).

Trong sự phục sinh, Đức Kitô đã mặc khải Thiên Chúa của LTX, vì Ngài đã chấp nhận Thập giá là đường tới phục sinh. Vì thế, khi chúng ta nhớ tới Thập giá, cuộc Khổ nạn và Sự chết của Đức Kitô, đức tin và đức cậy của chúng ta tập trung vào Đấng Phục Sinh: “Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!”. Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20:19-20). Rồi Ngài nói với họ: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20:22-23).

Ở đây Chúa Con có kinh nghiệm về LTX đã được thể hiện với Ngài, nghĩa là tình yêu của Chúa Cha mạnh hơn Tử thần. Đức Kitô cũng vậy, vào lúc cuối của sứ vụ cứu độ, Ngài đã mặc khải chính Ngài là Nguồn Thương Xót vô tận, về chính tình yêu ấy, trong viễn cảnh lịch sử cứu độ nơi Giáo hội, được xác nhận là lớn hơn mọi tội lỗi của nhân loại.

Đức Kitô Vượt Qua là hiện thân cuối cùng của LTX, dấu hiệu sống động trong lịch sử nhân loại cho đến tận thế. Trong tinh thần đó, phụng vụ mùa Phục sinh đặt trên môi miệng chúng ta những lời của Thánh vịnh: “Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng, qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài” [Tv 89 (88):2].

Lạy Chúa Giêsu, chúng con tín thác nơi Ngài!

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ TheDivineMercy.org)


(*) Septuagint, quen gọi là Bản Bảy Mươi. Bản Kinh thánh phổ thông (Vulgate) chủ yếu là công của thánh Giêrônimô, và được ĐGH Damasus I ủy nhiệm năm 382. Lúc đó, bản này là tiêu chuẩn trong Giáo hội, nhưng đến thế kỷ XVI có vài trăm bản được in, với nhiều thay đổi. Công đồng Trentô tuyên bố rằng Bản Kinh thánh phổ thôn là xác thực khi đọc công khai, tranh luận, giảng thuyết và bình luận, và truyền lệnh xem xét kỹ lưỡng. Nghĩa là bản phổ thông này là bản Kinh thánh chính thức của Giáo hội. Bản này cũng được Công đồng Vatican I và Vatican II sử dụng.

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Lòng Chúa Thương Xót – Lời hứa và Hiện thực Apr 07

Thứ Bảy Tuần Thánh bao trùm khoảng lặng trầm hùng. Lặng lẽ để suy niệm về sự hy sinh cao cả của Đấng Cứu Thế, để sám hối tội lỗi mình, và hy vọng giây phút bừng sáng Ánh Phục Sinh.

Giờ Thứ Chín của Thứ Sáu Tuần Thánh, Giờ Cứu Độ, Giờ Thương Xót. Chính giờ đó đã có 2 Hồng ân của LCTX:

Hồng ân thứ nhất của LCTX đã được trao ban cho mỗi chúng ta ngay khi Chúa Giêsu cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Chắc chắn ngôn ngữ phàm nhân không đủ từ ngữ và không có đủ cách để mô tả Tình Yêu Chúa, tức là LCTX, một cách trọn vẹn nhất.

Thấy người-trộm-dữ thách thức Chúa Giêsu, người-trộm-lành mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” (Lc 23:40-41). Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23:42). Người-trộm-lành đó là Dimas, anh đã được Chúa Giêsu ban LTX khi Ngài hứa: “Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43). Đó là Hồng ân thứ nhì của LCTX.

Một hồng ân được trao ban cho tập thể và một hồng ân được trao ban cho cá nhân. Chúa Giêsu đã thực hiện đúng như Ngài đã hứa. Ngài quá nhân từ và đại lượng, ngay cả lúc sắp chết. Ngài nhân từ và đại lượng với chính kẻ thù của mình, những người đã hành hạ, sỉ vả và sát hại Ngài. Những kẻ tử thù “không đội trời chung” đó là chính chúng ta!

Thiết tưởng chúng ta phải coi chừng động thái “cứng lòng” của người-trộm-dữ. Anh ta có tội và sắp chết mà vẫn cố chấp và thách thức Thiên Chúa: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” (Lc 23:41). Đó là tình trạng không tin tưởng, cố chấp, không muốn đón nhận LCTX.

Chính Chúa Giêsu đã mặc khải cho Thánh nữ Maria Faustina rõ ràng: “Vào lúc 3 giờ chiều, hãy khẩn cầu LTX của Ta cho các tội nhân cách riêng, và nếu có thể trong giây lát, con hãy trầm mình vào cuộc khổ nạn của Ta, đặc biệt lúc Ta bị bỏ rơi trong cơn hấp hối. Đây là giờ điểm LTX vĩ đại nhất đối với thế giới. Trong giờ này, Ta sẽ chẳng từ chối bất cứ điều gì với các linh hồn kêu van Ta, nhân danh cuộc tử nạn của Ta”.

Bạn có đủ tin không? Đức tin luôn rất cần. Khi chữa lành bất cứ bệnh nhân nào, Chúa Giêsu cũng nói: “Đức tin của bạn đã cứu bạn” (x. Mt 9:22; Mc 5:34; Mc 10:52; Lc 7:50; Lc 8:48; Lc 17:18; Lc 18:42), và Ngài đã xác định: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu: ‘Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc’, nó cũng sẽ vâng lời” (Lc 17:6). Thánh nữ Bernadette (Lộ Đức) nói:“Người tin thì không cần giải thích, người không tin thì giải thích cũng vô ích”. Đáng quan ngại thật!

LCTX đã có từ khai thiên lập địa. Càng rõ nét hơn từ khi Chúa Giêsu mặc khải cho Thánh Faustina. Mọi người mọi thời đều cần LCTX, thời đại chúng ta là thời cách chung, càng cần LCTX hơn, vì ngày nay người ta đang mất dần ý thức tội lỗi và muốn loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình. Vì Chúa Giêsu đã kêu: “Tôi khát!”. Đó là Ngài “khát” các linh hồn, Ngài không muốn ai không được lãnh nhận Ơn Cứu Độ, vì một người không nhận lãnh được Ơn Cứu Độ thì thật uổng công Ngài. Thế mà hiện nay vẫn có những người không muốn tin, thậm chí là ngăn cản việc sùng kính LCTX. “Khó hiểu” thật!

Người ta nói: “Nhân vô thập toàn”, nghĩa là ai cũng phạm tội. Như vậy, không ai lại không cần đến LCTX.

Chúa Giêsu hào phóng trao ban LTX cho chúng ta, nhưng Ngài cũng trao trách nhiệm cho chúng ta: “Thưa Mẹ, đây là con của Mẹ” (Ga 19:26), và “Đây là Mẹ của anh” (Ga 19:27). Đó bổn phận và trách nhiệm “yêu thương nhau” (x. Ga 13:34; Ga 15:12; Ga 15:17) mà Ngài đã truyền lệnh. Mệnh lệnh nghĩa là PHẢI LÀM. Ngài không “ép buộc”, nhưng ai tuân lệnh thì được chúc phúc và được cứu độ. Vả lại, chính Chúa Giêsu là Cây Nho, còn tất cả chúng ta là cành nho (x. Ga 15:5). Là những chi thể trong một Nhiệm thể thì không yêu thương nhau sao được chứ?

Tuy nhiên, khi loan truyền và thực thi LCTX, chúng ta cần lưu ý kẻo lại “loan truyền chính mình”. Hãy noi gương Thánh Gioan Tẩy giả: “Ngài phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3:30). Đồng thời, rất có thể chúng ta sẽ gặp nhiều trở lực, vì Chúa Giêsu cũng đã báo trước: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước” (Ga 15:18).

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin lỗi Ngài và tín thác vào Ngài. Xin thương nâng đỡ và hướng dẫn chúng con đi đúng đường lối Ngài muốn. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Thứ Bảy Tuần Thánh – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Chuyện tình phụ Apr 06

Đại văn hào Victor Hugo nói: “Chết cho tình yêu là sống trong tình yêu”. Ông chỉ là một phàm nhân đầy tham-sân-si mà nhận thức được như vậy thì quả là tuyệt vời, và cũng… “ngược đời” quá. Ai cũng muốn yêu và được yêu, không ai lại muốn bị phụ tình. Người phụ tình bị chê trách đã đành, nhưng đôi khi họ có thể được… khen là “cao cơ”. Còn người bị tình phụ thì thường bị chê là yếu kém, là dở, là nhu nhược,… Không nhiều người khả dĩ hiểu thâm thúy như ông Victor Hugo.

TÌNH CUỒNG SI

Trong ca khúc “Vì Đó Là Em”, nhạc sĩ Diệu Hương xác định: “Không cần biết em là ai, không cần biết em từ đâu, không cần biết em ngày sau, ta yêu em bằng mấy ngàn biển rộng, ta yêu em qua đông tàn ngày tận, yêu em như yêu vùng trời mênh mông. Không cần biết đêm dài sâu, không cần biết bao gầy hao, ta ngồi đếm tên thời gian, nghe thương yêu dâng cao như ngọn đồi, như xa xôi nay quay về gần gũi, yêu em khi chỉ biết đó là em. Để rồi từ đó, ta yêu em không ngại ngần, để rồi từ đó trong bước chân nghe gần hơn. Một ngày lại đến trái tim ta dại buồn, rồi từng chiều lên mang nỗi buồn vô biên. Cho dù biết em rồi đi, cho dù biết không chờ chi, nhưng lòng vẫn nghe cuồng si, nghe trong ta quên đi lòng sầu hận, ta yêu em chưa bao giờ một lần, yêu em vì chỉ biết đó là em”.

Ca từ chân thật, giản dị mà sâu sắc. Giai điệu cũng nhẹ nhàng hòa quyện với từng ca từ. Một ca khúc thật đẹp, dường như không thể bỏ từ nào hoặc thêm từ nào. Điệp ngữ “đó là em” và “không cần biết” cứ lặp đi lặp lại cho thấy đó là khối u tình nhưng cường độ yêu cực mạnh. Tình yêu chân thật là thế, CHO nhiều hơn NHẬN. Người yêu thật lòng sẽ không so đo gì, “không cần biết” gì khác, chỉ cần biết “đó là em” – với phụ nữ thì “đó là anh”.

Khi yêu, không ai biết đường tình của mình có “mát mái, xuôi chèo” để “cặp bến bờ hạnh phúc” hay không. Nếu “lỡ” bị phụ tình mà vẫn yêu, vẫn nhớ mong, vẫn tương tư, thì người ta cho người đó là ảo vọng, là ngu xuẩn, là dại dột, “tâm thần”, là lụy tình,… Nếu vậy, Chúa Giêsu hẳn là còn là người “siêu tâm thần”, “siêu” lụy tình, cực kỳ siêu đẳng về mọi thứ. Tại sao? Vì Ngài biết trước là chúng ta sẽ phụ tình Ngài: “Gà chưa kịp gáy hai lần, thì con đã chối Thầy đến ba lần” (Mc 14:72), hoặc: “Thầy chấm bánh đưa cho ai, thì chính là kẻ ấy” (Ga 13:26). Ngài biết rõ cả trong tư tưởng của chúng ta, biết trước và biết rõ, thế mà trước khi tắt thở, Ngài vẫn nài xin Chúa Cha và biện hộ cho chúng ta, những-kẻ-phụ-tình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Chúng ta quá tệ!

Chúa Giêsu là Tình Yêu (x. 1 Ga 4:8 & 16), là Tình Yêu của mọi tình yêu, là Sư tổ của tình yêu. Ngài yêu tội-nhân-chúng-ta mà “không cần biết” gì khác, và Ngài chỉ nói với chúng ta một điều duy nhất: “Vì đó là con”. Ngài yêu chúng ta “bằng mấy ngàn biển rộng”, Ngài yêu chúng ta “qua đông tàn ngày tận”, Ngài “không cần biết bao gầy hao”, Ngài không ngại ngần, dù biết chúng ta đến rồi đi, hứa rồi quên, Ngài vẫn dành cho chúng ta khối cuồng si, chỉ vì “đó là chúng ta”. Kỳ diệu quá!

XIN LỖI TÌNH YÊU

Trong ca khúc “Xin Lỗi Tình Yêu”, nhạc sĩ Minh Nhiên trần tình: “Anh nói sẽ đưa em đi suốt cuộc đời, mà sao không đưa được đoạn đường em đi?… Anh nhớ lần đầu tiên trông thấy nụ cười, mà em trao cho người lạc đường yêu đương. Anh biết từ đây anh sẽ dối em, dù em tin thật lòng với người anh yêu! Tình yêu hỡi ngàn lần xin tha thứ. Xin lỗi em, ngàn lời xin lỗi em!…”.

Khi yêu, người ta hứa đủ điều, liều mình mà “bán trời không văn tự”, thậm chí còn dám “bắt chước” vua Hêrôđê cho gái cả nửa đất nước (x. Mc 6:23). Chàng thanh niên trong ca khúc “Xin Lỗi Tình Yêu” cũng hứa… cuội, để cô gái tin anh ta “thật lòng với người anh yêu”. Anh ta thú nhận mình là “người lạc đường yêu đương” và “sẽ dối em”, để rồi kết luận: “Tình yêu hỡi, ngàn lần xin tha thứ… Ngàn lời xin lỗi em!”.

Chàng trai đó là chính chúng ta, những-người-dám-phụ-tình-Chúa. Thế nhưng, liệu chúng ta đã có lời nào xin lỗi Chúa chưa? Hay là coi việc tha thứ là bổn-phận-của-Chúa, chúng ta không cần xin lỗi? Có lẽ không hề oan đối với chúng ta đâu!

Thứ Sáu Tuần Thánh, thời tiết oi nồng như nhắc nhở chúng ta về “lời xin lỗi Chúa”. Tuần Thánh cũng thường trùng vào những ngày có trăng đẹp, ánh trăng lung linh kỳ ảo và dịu mát như nhắc nhở chúng ta về Mầu nhiệm Tình yêu của Thiên Chúa, về Lòng Thương Xót vô biên của Ngài.

Tình-yêu-cuồng-si của Đức Kitô biến Ngài hóa “yếu đuối” và “điên rồ” vì những-tội-nhân-chúng-ta. Tuy nhiên, Thánh Phaolô so sánh: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1:25). Hiểu được như vậy nên Thánh Phaolô mong muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô!” (Gl 6:14a). Thập giá là nhục hình, là đau khổ, là thua thiệt, thế mà lại có người hãnh diện, “lạ” thật!

“Lạ” cũng phải. “Khó hiểu” cũng đúng. Vì “nhờ Thập giá của Đức Kitô mà thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá” (x. Gl 6:14b). Nhờ Thập giá mà chúng ta được cứu độ, được hưởng Lòng Chúa Thương Xót: “Kính lạy Máu và Nước đã tuôn trào từ Thánh Tâm Chúa Giêsu, như thác nguồn thương xót chúng con, con tín thác vào Chúa. Ôi suối nguồn sự sống LTX vô biên của Chúa, xin bao phủ thế giới và trút hết cho chúng con”.

Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến nỗi loài người không thể nào hiểu nổi, vì “Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2:4). Giờ Thứ Chín, Giờ Cứu Độ, Giờ Thương Xót: “Lạy Chúa, vì cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót chúng con và toàn thế giới”.

Lạy Thiên Chúa, chúng con xin lỗi Ba Ngôi, đặc biệt xin lỗi Đức Giêsu Kitô, chúng con cũng xin lỗi Đức Mẹ Maria và Đức Thánh Giuse. Chúng con thành tâm ăn năn sám hối về mọi tội lỗi của chúng con, xin cứu độ chúng con và toàn thế giới. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Giờ Thứ Chín – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Liệu pháp Lòng Chúa Thương Xót Apr 06

Thầy thuốc

Nếu thầy thuốc biết rằng nếu một ngày nào đó có một liệu pháp mới, ông sẽ có thể chữa cho nhiều bệnh nhân ung thư, và nếu ông biết hiệu quả sẽ xảy ra sau vài giờ và nếu ông biết sách có hướng dẫn cách điều trị chứng ung thư đó, thầy thuốc đó có mau chóng áp dụng ngay hay không? Chắc hẳn thầy thuốc đó phải cấp tốc dùng liệu pháp đó để cứu sống các bệnh nhân ung thư càng nhiều càng tốt trong ngày tuyệt vời đó.

Thầy thuốc đó là linh mục. Sách hướng dẫn đó là cuốn Nhật Ký của Thánh Faustina. Liệu pháp đó là Lòng Chúa Thương Xót (LCTX). Ngày đó là Đại lễ LCTX.

Diện mạo tốt lành của Thiên Chúa

Trong buổi lễ phong thánh cho nữ tu Faustina, Chân phước GH Gioan Phaolô II nói: “Nhờ hành động hôm nay, tôi gởi sứ điệp của Lòng Chúa Thương Xót tới thiên niên kỷ mới. Tôi trao sứ điệp này vì tôi muốn mọi người biết diện mạo của Thiên Chúa rõ ràng hơn, diện mạo của LCTX, và qua đó, mọi người biết rõ diện mạo của anh chị em mình. Ánh sáng của sứ điệp LCTX mà Thiên Chúa muốn đổi mới trong thế giới sẽ là dấu hiệu hy vọng cho thiên niên kỷ thứ ba này, như các tông đồ xưa”. Ngài nói thêm rằng, trong tương lai, Chúa Nhật II Phục sinh sẽ được cả thế giới gọi là Chúa Nhật LCTX, giáo sĩ và giáo dân sẽ hữu ích nhờ Chúa Nhật LCTX, trong thời gian của đặc sủng này.

Trong thế giới ngày nay, rõ ràng người ta không còn lắng nghe Thiên Chúa và thế giới cần phương thuốc mới này để chữa lành. Rõ ràng đây là lý do Chúa Giêsu, Thầy Thuốc chữa mọi chứng bệnh tâm linh, đã tìm thấy liệu pháp cần thiết để cho chúng ta cách mới và Ngài đã trao cho chúng ta sứ điệp phi thường được mặc khải cho Thánh Faustina, với lời hứa khác thường gắn liền với liệu pháp này để điều trị con người hiện đại và đem nhân loại về với đức tin lành mạnh.

Linh ảnh LCTX là máng chuyển ân sủng

Ngài đã trao cho chúng ta một hình ảnh mới về LCTX, từ đó Ngài hứa ban những ân sủng lớn lao sẽ tuôn trào ở những nơi trưng bày và tôn sùng linh ảnh LCTX. Linh ảnh LCTX là Nguồn Chữa Lành mà chúng ta có thể tiếp tục chạy đến để được bồi dưỡng sức khỏe, tăng cường sức mạnh và đức tin, nhờ các ân sủng tuôn chảy từ linh ảnh LCTX. Chúng ta có thể làm đầy hồn xác chúng ta bằng tinh thần mới của con người và đức tin, những thứ đang bị xói mòn trong thế giới ngày nay.

Chuỗi LCTX

Chúa Giêsu đã trao ban cho chúng ta công thức mạnh mẽ mới để đạt được điều này, qua lời cầu nguyện có thế lực, đó là Chuỗi LCTX, nếu chúng ta cầu nguyện chân thành và sám hối. Chuỗi LCTX sẽ cho chúng ta cơ hội dâng lên Chúa Cha chính Mình và Máu, Linh hồn và Thiên tính của Con Rất Yêu Dấu là Đức Giêsu Kitô, Ngài đã hy sinh, chuộc tội chúng ta và toàn thế giới. Một lời cầu nguyện mạnh mẽ biết bao, sức mạnh đó có thể chỉ sau sức mạnh của Thánh lễ. Ngài cũng hứa rằng nếu Chuỗi LCTX được đọc trước mặt tội nhân đang hấp hối, dù họ có hiệp thông hay không, Chuỗi LCTX cũng sẽ cứu tội nhân đó thoát khỏi Hỏa ngục. Chuỗi LCTX còn được gọi là “Lời cầu nguyện Hoán cải” (Conversion Prayer). Nếu Chuỗi LCTX được đọc thành kính vào lúc 3 giờ chiều, với lòng ăn năn sám hối và với đức tin, nhân danh một linh hồn nào đó, sẽ có hiệu quả nhờ lời hứa của Chúa Giêsu và Ngài sẽ bước vào cuộc đời của linh hồn đó. Loan truyền Chuỗi LCTX là bảo đảm phần rỗi của linh hồn mình, nếu bạn giúp loan truyền bằng hành động, bằng lời nói và bằng lời cầu nguyện.

Đại lễ LCTX

Có một lời hứa vĩ đại nhất là “ngày chữa lành mọi người”, dù linh hồn đó tội lỗi tới mức nào, ngày đó là Chúa Nhật sau Đại lễ Phục sinh, Đại lễ LCTX, đối với những người theo những bước đơn giản mà Chúa Giêsu mong muốn là tuân phục và tín thác vào Ngài. Lời hứa này được thể hiện bàng cách chữa lành linh hồn, làm cho lời hứa đó trở nên trong sạch như ngày mới lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy.

Vào ngày Đại lễ LCTX, chúng ta cũng nhận được Thần khí duy nhất của LCTX. Chính Thần khí của LCTX sẽ chữa lành mọi vết thương của nhân loại, chữa lành mọi bệnh tật khiến chúng ta xa lìa Thiên Chúa, chữa lành bệnh ngờ vực khiến chúng ta xa cách nhau, phục hồi tình yêu Chúa Cha dành cho chúng ta, và tình yêu chúng ta dành cho Chúa Cha. Đại lễ LCTX là dịp tuyệt vời biết bao!

Tòa thánh công nhận Đại lễ LCTX

Hãy nhớ rằng Đại lễ LCTX không là lòng sùng kính riêng tư. Lễ này đã được Chân phước GH Gioan Phaolô II thiết lập ở mức toàn cầu. Giáo hội đã phê chuẩn ngày 5-5-2000 bằng một sắc lệnh (Decree), được Bộ Phụng tự và Bí tích công bố. Đại lễ LCTX được cử hành chính thức vào Chúa Nhật sau Đại lễ Phục sinh mãi mãi. Vì Đại lễ LCTX đã được Tòa thánh phê chuẩn, nên lễ này mở rộng tới các giám mục để thiết lập tại giáo phận địa phương, hoặc Hội đồng Giám mục thiết lập lễ này trên toàn quốc.

Rõ ràng Chân phước Gioan Phaolô II tha thiết muốn chính thức thiết lập Đại lễ LCTX ở khắp thế giới, nhưng chính các giám mục có trách nhiệm thiết lập lễ này trong lịch phụng vụ địa phương ở quốc gia mình. Không lấn cấn gì với lịch phụng vụ địa phương vì Đại lễ LCTX được cử hành trong Tuần bát nhật Phục sinh. Chính Chúa Giêsu đã chọn ngày này để mừng kính LTX của Ngài, do đó không có vấn đề gì về việc cử hành Đại lễ LCTX. Các bài đọc Kinh thánh trong các Chúa Nhật khác cũng vẫn tập trung vào LCTX. Phúc âm Chúa Nhật này luôn nói về việc Chúa Giêsu hiện ra với các Tông đồ và ban cho các ông quyền tha tội, và Thánh vịnh trong đáp ca cũng luôn là Tv 118, xưng tụng LCTX đến muôn đời: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”. Trước đây Giáo hội gọi Chúa Nhật II Phục sinh là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, vậy đâu có gì trái ngược khi Giáo hội gọi Chúa Nhật này là Đại lễ LCTX. Vẫn là một, nhưng chỉ là hai cách gọi mà thôi.

Nếu bạn đọc Thánh Augustinô thì có thể thấy rằng, trong Giáo hội thời xưa, Chúa Nhật sau Đại lễ Phục sinh được coi là “đại lễ” kính nhớ LTX của Chúa. Điều Thánh Augustinô nói được biểu lộ trong mọi sự kiện của Mầu nhiệm Vượt qua (Paschal Mystery). Thánh Augustinô gọi Chúa Nhật II Phục sinh là “ngày tóm lược LCTX” (a day that is a compendium of all God’s mercies). Chúa Nhật LCTX không là ngày lễ mới có “xung khắc” với Đại lễ Phục sinh mà là cách canh tân của lễ cũ trong Giáo hội, lễ mừng Đức Kitô sống lại từ cõi chết và ban sự sống vĩnh hằng cho nhân loại, đó là hành động cuối cùng của LCTX.

Chuẩn bị Đại lễ LCTX

Dưới đây là những bước đơn giản theo yêu cầu của Chúa Giêsu khi chuẩn bị Đại lễ LCTX, để Chúa Cha sẽ ban ơn chữa lành linh hồn cho chúng ta. Vào ngày Đại lễ LCTX, hãy đến nhà thờ theo ý muốn của Chúa Giêsu và hãy thực hiện các điều Ngài đã cho chúng ta biết về ngày lễ này.

Các mặc khải trong cuốn Nhật Ký của Thánh Faustina có những điều khá rõ ràng:

(1) Đại lễ LCTX nên được cử hành vào Chúa Nhật thứ II Phục sinh.

(2) Đại lễ LCTX nên được cử hành bằng Tuần Cửu Nhật Chuỗi LCTX, bắt đầu từ Thứ Sáu Tuần Thánh.

(3) Đời sống chúng ta phải thể hiện động thái thương xót, nhất là mỗi ngày trong Tuần Cửu Nhật, là phần chuẩn bị Đại lễ LCTX. Chúng ta phải thương xót người khác bằng lời nói, việc làm và lời cầu.

– Ngôn ngữ thương xót: Tha thứ cho người khác để noi gương LCTX.

– Hành động thương xót: Thực hiện việc làm để tỏ LCTX.

– Lời cầu thương xót: Cầu nguyện cho các tội nhân cần đến LCTX.

(4) Linh ảnh LCTX nên được tôn kính vào ngày Đại lễ LCTX.

(5) Chúng ta nên bày tỏ công khai niềm tín thác vào Chúa Giêsu, vào LCTX. Điều này có thể thực hiện bằng cách hôn kính hoặc chạm vào linh ảnh LCTX, và thành kính tâm sự: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài”. Điều này cũng có thể thực hiện khi chúng ta hôn kính Thánh Giá trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hoặc bất kỳ lúc nào chúng ta cảm thấy “nhớ” Ngài.

(6) Xưng tội và rước lễ: Nên xưng tội trước để có thể rước lễ vào ngày Đại lễ LCTX. Linh hồn phải ở trong ân sủng để xứng đáng đón nhận LCTX.

Thánh Faustina đã xưng tội để chuẩn bị Đại lễ LCTX vào thứ Bảy trước đó. Sau khi rước lễ, được hòa tan trong Chúa Giêsu Thánh Thể, nên hoàn toàn tín thác vào LCTX.

(7) Bài giảng của linh mục phải nói về LCTX trong ngày Đại lễ LCTX, đó là LTX mà Chúa Cha trao ban cho chúng ta qua Chúa Con, Đức Giêsu Kitô.

(8) Vào ngày Đại lễ LCTX, chúng ta phải chiêm ngưỡng Mầu nhiệm Cứu độ vì đó là mặc khải vĩ đại nhất về LCTX đối với chúng ta.

Đại lễ LCTX cũng là dịp đặc biệt đem các linh hồn lầm lạc về kết hiệp với chúng ta, về với LCTX, bằng lời khẩn cầu, và cho những linh hồn đó đến với Chúa Giêsu vì Ngài hứa chữa lành họ, tăng sức mạnh cho họ. Chúa Giêsu nói: “Vào ngày Đại lễ LCTX, Ta khao khát các linh hồn, con sẽ đem các linh hồn yếu đuối đến Nguồn Thương Xót của Ta, nơi mà Ta sẽ chữa lành họ và tăng sức mạnh cho họ”.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ DivineMercy.org)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment