Subscribe RSS
TÍN ĐỒ HỒI GIÁO TRỞ THÀNH TÍN HỮU CÔNG GIÁO Apr 13
Tác giả EDWARD PENTIN


Thần học gia Hans Urs von Balthasar (1), người Thụy Sĩ, là khí cụ giúp ông Ilyas Khan đã tìm thấy đức tin Công giáo nhờ khoa Địa lý và Thần học. Ilyas Khan là người Anh, có lòng từ tâm và là tín đồ Hồi giáo. Nhưng có quá nhiều ảnh hưởng Công giáo rõ rệt, “kéo” ông đến với đức tin hơn là “đẩy” ông xa rời Hồi giáo.

Hồi giáo.JPG


Ông Khan là một giám đốc ngân hàng thương mại được đào tạo bài bản, là ông bầu đội bóng đá Accrington Stanley, và là chủ tịch Hội từ thiện Khuyết tật Leonard Cheshire – tổ chức lớn nhất thế giới chuyên giúp người khuyết tật. Trong cuộc trả lời phỏng vấn với ký giả Edward Pentin của báo Register Rome, ông Khan giải thích chi tiết về những gì đã đưa ông đến với Giáo hội Công giáo.

Điều gì đem ông đến với niềm tin tôn giáo? Có điều gì đó trong Hồi giáo, có thể lòng sùng kính Đức Mẹ trong Hồi giáo đã giúp ông gia nhập Công giáo?

Có và không. Lòng sùng kính Đức Mẹ về phương diện cá nhân là một phần lớn của đức tin, nhưng đồng thời, tôi biết điều đó không là gì đối với việc nuôi dưỡng tôi thành một tín đồ Hồi giáo. Những bước thăm dò đầu tiên của tôi đến với Công giáo đã có từ khi tôi còn thơ ấu. Lúc đó mẹ tôi rất bệnh hoạn, nên tôi được bà tôi nuôi dưỡng từ lúc tôi mới 3 hoặc 4 tuổi. Bà tôi là người Công giáo Ai-len. Tôi đi học trường của nhà thờ, khi bắt đầu đi học tôi không nghĩ mình là một Kitô hữu.

Tôi cũng nhờ được nuôi dưỡng ở Lancashire, trên vùng Pennines và gần Ribble Valley. Nếu đã từng có khu trung tâm Công giáo ở Anh, thì hẳn là vùng đó – khu chưa bao giờ có Cuộc Cải Cách (Reformation).

Từ đó, khi tôi vào đại học, Chúa quan phòng đã can thiệp lần thứ hai, và tôi ở Nhà Netherhall, phòng của sinh viên Hội Opus Dei (2) ở London. Nhưng giữa khoảng 4 tới 17 tuổi, tôi được giáo dục thành một tín đồ Hồi giáo trong một gia đình Hồi giáo. Tôi đến Đền thờ Hồi giáo, học kinh Quran. Nhưng tôi nghĩ không có lĩnh vực nào của Hồi giáo có thể khiến tôi thành người Công giáo.

Ở Nhà Netherhall lúc đó có ảnh hưởng khiến ông có đức tin?

Có, rất nhiều. Tuy nhiên, lúc đó tôi không nghĩ mình có can đảm để chuyển đạo hoặc được nhận vào Công giáo, hoặc thậm chí chỉ là được hướng dẫn chính thức. Sự bội giáo là cái gì đó mà Hồi giáo coi là rất quan trọng. Trong mắt của rất nhiều người, bỏ Hồi giáo thực sự là tội đáng tử hình. Thế nên Nhà Netherhall là một khí cụ. Tôi nhớ rất rõ là việc tôi thích cầu nguyện thực sự được hình thành từ đó, xung quanh tôi là những tấm gương sống động về một đức tin kỳ lạ.

Ông muốn nói ông đến với đức tin hầu như do tiềm thức?

Thực sự không. Tôi nghĩ tôi có đức tin hoàn toàn do ý thức. Khoảng 18 hay 19 tuổi, tôi lý luận và hỏi người lớn. Lúc đó tôi gặp một người thông minh tên là Hans Urs von Balthasar. Có một thư viện ở Nhà Netherhall, tại đây tôi bắt đầu đọc sách Thần học. Đó là nơi tôi tình cờ gặp Origen, và đó cũng là nơi tôi nghiên cứu và đánh giá cao các tác phẩm của Thánh Augustinô. Tôi rất ý thức nhưng tôi hơi quan ngại. Lúc đó cha Mẹ tôi vẫn sống, một phần vì tính cẩn trọng của tôi khiến tôi sợ làm cha mẹ tổn thương. Tôi không biết nói với cha mẹ thế nào khi tôi tốt nghiệp đại học, nhưng có thể “con người Công giáo” đã đến gần.

Điều gì khiến ông can đảm tới cùng?

Ngoại trừ Chúa Thánh Thần? Có cực điểm của hai thứ: Mức độ chắc chắn trong lĩnh vực luân lý của tôi, và nếu có sức đẩy tôi xa Hồi giáo thì đó là sức hút của Đức Kitô. Tôi không có ý nghĩ tiêu cực khi chuyển đạo. Yếu tố quan trọng khác là sự tham dự rất thường xuyên của tôi, hơn 10 năm ưu tiên cho việc được chính thức vào nhà thờ – Nhà thờ Thánh Giuse ở Hong Kong. Tôi đến sống ở Á châu và Hong Kong lúc khoảng 25 tuổi, đó là nơi tôi phát hiện mình bị thu hút bởi Công giáo truyền thống. Các hành động đơn giản của đức tin – nghi thức, phụng vụ và cầu nguyện chung – là những viên đá nền tảng.

Trong những năm dần dần tiếp cận đức tin, ông có nghĩ rằng đức tin Công giáo là đúng?

Có, mặc dù có thể hơi cường điệu. Lúc đó, khi tôn giáo là việc chính của tôi, rất khó phân biệt hành động nào có thể hoặc không thể được đức tin thúc đẩy. Tôi hy vọng mọi thứ tôi làm trong đời đều được đức tin thúc đẩy và hướng dẫn. Tôi trả lời câu hỏi của ông bằng cách hơi khác: Tôi chưa bao giờ nghi ngờ, từ lúc ngoài 20 tuổi trở đi, tôi là một Kitô hữu, và con đường tôi đến với Công giáo thực sự khá nhanh. Khi nhìn lại, tôi thấy hành trình chỉ mất 4 hay 5 năm. Tôi phải nói rằng Thần học gia Von Balthasar chính là người đã hướng dẫn tôi.

Chân phước Gioan Phaolô II và ĐGH Bênêđictô XVI có ảnh hưởng ông? Cả hai vị đó được gọi là “người theo phong cách Balthasar”.

Một câu hỏi thật thú vị. Tôi chưa bao giờ được hỏi như vậy. Hồng y Ratzinger, nay là Giáo hoàng, có phẩm chất là “người theo phong cách Balthasar”, và Chân phước Gioan Phaolô II đã nâng Balthasar lên thành một Hồng y. Dĩ nhiên, Chân phước Gioan Phaolô II có tầm ảnh hưởng ngoài sự tôn trọng dành cho Von Balthasar – sao lại không ảnh hưởng một con người vĩ đại như vậy chứ? Cũng như nhiều con người vĩ đại khác, chính Balthasar không chỉ là một nhà thông thái vĩ đại, mà còn thông suốt về mầu nhiệm đức tin là tâm điểm đời sống Kitô hữu. Kkhoảnh khắc đáng nhớ nhất xảy ra với tôi khi tôi ngoài 30 tuổi. Lúc tôi đi ngang qua tượng đài Pieta (Đức Mẹ ôm xác Chúa Giêsu) ở Quảng trường Thánh Phêrô, tôi nhớ mình đã bị thu hút bởi sự kết hợp của vài thứ một lúc. Ông hỏi tôi về mối quan hệ với Mẹ Thiên Chúa. Vâng, khoảnh khắc đó thực sự rất quan trọng. Điều đó có thể mô tả là một “bước ngoặt”.

Vẻ đẹp của bức tượng Pietà đã tạo ấn tượng với ông?

Vâng, đúng vậy. Tôi nghĩ đó là Thiên Chúa, thực sự là Thiên Chúa. Phải nhớ rằng một trong những điều quan trọng là lúc chúng ta coi Hồi giáo truyền thống là tà thuyết – theo ý kiến của họ – coi Chúa Giêsu hay chết đồng đẳng với Thiên Chúa. Và nếu đã từng có trở ngại mà một người Hồi giáo chuyển đạo phải đồng ý, về trí tuệ và cảm xúc, hơn bất kỳ thứ gì khác, đó chính là điều đó. Lúc đó, trước tượng Pietà, tôi chỉ nhận biết qua cảm xúc, rằng chân lý của tôn giáo quá đơn giản và trực tiếp.

Ông muốn nói Chúa Giêsu không chỉ là tiên tri mà còn là Thiên Chúa?

Đúng vậy, lúc đó tôi nghĩ vậy. Tôi nhớ rất rõ, điều đó vẫn làm tôi muốn khóc – tôi không hề nghi ngờ gì. Rõ ràng là vậy. Tôi sợ rằng điều đó không thể để tôi nói rõ ràng cảm giác đó bằng ngôn ngữ. Nếu có khoảng khắc “trước” và “sau”, tôi có thể nói đó là điểm đến.

Sợ Hồi giáo kết tội bội giáo, đó có là điều ông thao thức vào ban đêm?

Không hề. Nó không làm tôi thao thức. Tuy nhiên, tôi có thể cho ông biết khi nào thích hợp: Theo nhiều cách khác nhau – qua bài báo, qua radio hoặc ti-vi. Tôi muốn có sự công bằng ở Anh, nơi tôi làm ông bầu của 1 trong 4 đội bóng nổi tiếng. Tôi mô tả theo tiêu chuẩn, chẳng hạn: “Người gia nhập Công giáo mới đây nhất”. Có nhiều khi tôi nhận được lời đe dọa của những người Hồi giáo hoặc các tổ chức Hồi giáo phản ứng các bài báo hoặc các cuộc phỏng vấn như thế này, tôi phải nói rằng các điều đó không bao giờ làm tôi mất ngủ. Tôi nhận những e-mail cả chia sẻ lẫn hăm dọa, nhưng tôi hy vọng sự xứng đáng và từ chối bị thu hút vào cách sống bị điều khiển bởi nỗi sợ hãi hoặc sự thận trọng không đáng có.

Ngược lại, điều tôi quan tâm là nơi gặp gỡ giữa Hồi giáo và Công giáo, Ở đó có một mức độ tương đồng. Thái độ của tôi là bày tỏ cho những người không Công giáo thấy vẻ đẹp, sự thuần khiết, sự kỳ diệu và đặc ân của việc trở thành người Công giáo. Tôi rất thẳng thắn và bình tĩnh đối với vấn đề này, và đó là sự phản ánh về đức tin của tôi.

Một số người chuyển đạo có thể rất tiêu cực đối với tôn giáo cũ của họ, nhưng ông có vẻ không như vậy.
Tôi thấy có lợi ích đối với lối sống giản dị. Ttôi nghĩ không có gì phức tạp trong đức tin, và như tôi đã nói, tôi “bị” lôi kéo tới niềm tin Kitô giáo chứ không “bị” đẩy xa khỏi Hồi giáo.

Tuy nhiên, tôi phải công nhận rằng tôi có nhiều nỗi buồn trong lòng khi tôi suy nghĩ về những người dùng Hồi giáo để thanh minh cho các hành động của họ. Các hành động này không chỉ phi Hồi giáo (un-Islamic) – họ không nhân đạo và không có gì để coi Hồi giáo là một tôn giáo. Buồn thay, hình như có nhiều người Hồi giáo coi tức giận và bạo lực là trực giác đầu tiên để phản ứng với bất kỳ thứ gì mà họ không đồng ý. Ngoài ra, tôi cảm thấy 2 tôn giáo, Hồi giáo và Kitô giáo, có thể được mô tả là “họ hàng xa”. Nnê nhớ tôi được giáo dục thành người Hồi giáo, tôi đã từng tới Thánh địa Medina và Mecca, và tôi có thể hiểu một số phẩm chất cố hữu. Nhưng chúng ta cũng phải công nhận rằng điểm khởi đầu, sự khác biệt giữa hai tôn giáo, rất bao la. Thế nên khi có những điểm tương đồng, và tôi có thể hiểu họ, thì họ không quan tâm lắm. …Tôi tôn vinh Đức Giêsu Kitô là Tình yêu. Một câu đơn giản. Đó là sự khác biệt hạn chế.

Và nói chung là rất đơn giản.

Đúng vậy, nhưng chúng ta gọi điều đó là “tình yêu”, chúng ta là những Kitô hữu quan tâm nhau tự đáy lòng của đức tin, đó là cuộc sống thực sự và phẩm chất hiển nhiên. Chúa Giêsu thực sự ở bên chúng ta. Chúng ta không cần phép ẩn dụ hoặc những khái niệm mập mờ về những gì tình yêu “có thể là” để gợi hứng hoặc thông báo cho chúng ta biết. Chúng ta được chúc lành nhờ Bí tích Thánh Thể và được nuôi dưỡng bởi lời bầu cử trực tiếp của Đức Mẹ qua sự hy sinh của Chúa. Theo đó, Thần học gia Hồng y Von Balthasar đã giúp thay đổi nền tảng của cuộc đối thoại về mối quan hệ giữa Giáo hội, Đức Kitô và Chúa Thánh Thần. Hồng y Von Balthasar đã tạo ra cách hiểu mới về ngữ nghĩa của “tình yêu” theo mạch văn tôn giáo. Do đó, tôi thực sự không thể nói nhiều về những điểm tương phản giữa Công giáo và các tôn giáo khác, chẳng hạn cứ là tín đồ Hồi giáo hoặc Ấn giáo, nhưng hãy xác định tính đơn giản không sai lệch về niềm tin của mình.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)

—————-

(1) Linh mục Công giáo, sinh ngày 12-8-1905 tại Lucerne, qua đời ngày 26-6-1988 tại Basel. Ngài được tấn phong Hồng y và được coi là Thần học gia vĩ đại nhất của thế kỷ XX.

(2) Opus Dei là một hội của các tín hữu Công giáo dấn thân vào công tác tông đồ và sống đời hoàn thiện Kitô giáo trong thế giới. Tuy nhiên, họ không từ bỏ môi trường xã hội và tiếp tục sống nghề nghiệp của mình. Được thành lập tại Madrid (Tây Ban Nha) ngày 2-10-1928, người sáng lập là Đức ông José María Escriva de Balaguer (đã được phong thánh), hội nhận được sự chuẩn y sau cùng của Tòa thánh ngày 16-6-1950. Tên chính thức đầy đủ của hội là Societas Sacerdotalis Sanctae Crucis (Tu hội Linh mục Thánh giá), có trụ sở tại Roma, Ý. Có hai nhánh của hội Opus Dei, một dành cho nam và một dành cho nữ, nhưng hai nhánh độc lập với nhau như hai tổ chức riêng, chỉ thống nhất trong con người của vị Giám Quản chung. Nhánh phụ nữ được thành lập năm 1930. Một tổng công hội, gồm người của nhiều quốc gia, trợ giúp vị Giám quản trong việc điều hành hội. Các linh mục thuộc về Hội Opus Dei và thành viên của Hội Opus Dei được truyền chức linh mục. Những người đã kết hôn cũng có thể thuộc về Hội Opus Dei, tự hiến sống đời hoàn thiện Kitô giáo trong bậc sống của mình. Các cộng tác viên, không là thành viên chính thức của Hội, giúp đỡ trong nhiều công tác tông đồ khác nhau.

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Xã hội  | Leave a Comment
Hai động thái Apr 13

“Lời Chúa là lời chân thật” (Tv 12:7) và “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119:105). Đó là điều tất nhiên, vì chúng ta vẫn tâm niệm: “Lời Chúa hứa, lòng con ấp ủ” (Tv 119:11). Có khi Lời Chúa làm cho chúng ta thực sự phấn khởi và vui mừng, nhưng có khi Lời Chúa lại làm cho chúng ta đau điếng và phải… giật mình!

Trong trình thuật Lc 18:9-14 cho biết Đức Giêsu kể dụ ngôn về hai động thái trái ngược nhau: Kiêu ngạo và Khiêm nhường. Trong cuộc sống thường nhật chúng ta vẫn thấy có những người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác, thậm chí chính chúng ta cũng đã từng hơn một lần nhìn người khác bằng “nửa con mắt” như vậy!

Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”(Lc 18:11-12).

Người Pharisêu “đứng thẳng” và tự nhận mình “không như tên thu thuế kia”. Đó là hai động thái đầy vẻ kiêu ngạo và ảo tưởng. Không chỉ vậy, ông ta còn “khoe mẽ” là “ăn chay mỗi tuần hai lần” và “dâng cho Chúa một phần mười thu nhập”.

Đạo đức và thánh thiện quá! Thảo nào ông ta không “vênh vang” sao được, vì ông ta vừa tỏ ra đạo đức vừa tỏ ra hào phóng với Chúa bằng chính tiền bạc của ông ta. Chắc là ông ta cũng thường xuyên “đi làm từ thiện” lắm! Loại người này được người ta gọi là “ông kia, bà nọ”, được “chú ý”, được “tâng bốc”, được “đưa đón”, được “ăn trên, ngồi tróc”,…

Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18:13). Ngày xưa, người thu thuế “bị” coi là “phường tội lỗi” – vì thường “bóp chẹt” dân. Thế nên loại người này bị gọi là “thằng”, là “nó”, khá lắm cũng chỉ là “anh”.

Hẳn là người thu thuế biết “thân phận” mình nên khi anh ta vào nhà thờ chỉ “đứng ở góc cuối” và “không dám ngước mặt nhìn ai”, vừa đấm ngực vừa lâm râm cầu xin ơn tha thứ cho mình. Anh ta biết người ta luôn nhìn mình bằng ánh-mắt-mang-hình-viên-đạn, thế nên anh ta đành nín thinh và không dám nói nửa lời.

Chúa Giêsu bảo: “Tôi nói cho các ông biết: người này (người thu thuế), khi trở xuống mà về nhà thì đãđược nên công chính rồi; còn người kia (người Phariêu) thì không” (Lc 18:14a). Và Ngài xác định: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18:14b). Khiêm nhường là nền tảng mọi nhân đức. Kinh “Cải Tội Bảy Mối” đã đặt “khiêm nhường” vào “mối” thứ nhất: “Khiêm nhường chớ kiêu ngạo”. Nói đến đức-khiêm-nhường là có “đụng chạm” tới tính-kiêu-ngạo.

Sau giây phút cầu nguyện trước mặt Chúa, người-tự-nhận-tội-lỗi kia đã lãnh nhận được Lòng Chúa Thương Xót, còn người-tự-nhận-công-chính lại không nhận được Ơn Chúa. Chính Chúa Giêsu xác định:“Chẳng có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa” (Lc 18:19). Trước mặt Chúa, tất cả chúng ta (không trừ ai) đều là tội nhân khốn nạn. Đó là sự thật trăm phần trăm. Đừng ảo tưởng mà kiêu ngạo!

Ở Lc 19:1-10, chúng ta cũng biết được chuyện ông Da-kêu. Ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có. Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn. Ông chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để chờ xem Đức Giêsu đi qua đó. Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, Ngài nhìn lên và nói với ông: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay Tôi phải ở lại nhà ông!” (Lc 19:5). Chúa Giêsu tự nhận trách nhiệm “phải ở lại” nhà ông Da-kêu. Chắc hẳn Chúa vào nhà ông không phải vì ông là người-giàu-nứt-đố-đổ-vách hoặc lắm-của-nhiều-tiền, mà chỉ vì ông là người-tội-lỗi, Chúa muốn “giải thoát” ông-mập-lùn ấy.

Nghe Chúa Giêsu nói vậy, ông khoái chí nên vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Ngài. Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!” (Lc 19:7). Ở đây chúng ta cũng thấy rõ hai động thái: Kiêu ngạo và Khiêm nhường.

Ông Da-kêu không cần tính toán, liền thưa với Chúa: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19:8). Biết nghề của mình “không trong sạch” và “lóm lém” ít nhiều, ông sẵn sàng trả lại công lý cho những người đã bị đối xử bất công, và ông sẵn sàng “đền gấp bốn” cho người bị hại. Quá tuyệt vời! Thế nên Đức Giêsu mới nói về ông ta: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19:9-10).

Ông Da-kêu mang tiếng là “phường tội lỗi” nhưng ông đã thật lòng sám hối, quyết từ bỏ “con người cũ” để trở nên “con người mới”, và ông đã được lãnh nhận Lòng Chúa Thương Xót ngay lập tức. Chúa Giêsu luôn nhấn mạnh mà chúng ta lại thường không muốn nhớ: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.

Vừa qua, ngày 5-4-2012 (Thứ Năm Tuần Thánh), Đài truyền hình quốc gia Venezuela (cơ quan thông tấn chính thức) đã đưa bản tin gây sửng sốt đối với dân chúng và các giám mục của Venezuela về tổng thống Hugo Chavéz. Chuyện lạ hơn nữa là ông đeo một chuỗi tràng hạt như một người Công Giáo mộ đạo, và khóc ngay trước mặt mọi người trong Thánh lễ hôm đó. Báo The Wall Street tường thuật rằng, tổng thống Hugo Chavéz đứng trên bục giảng, quay mặt xuống anh chị em giáo dân, vừa khóc vừa nói:“Lạy Chúa xin cho con cuộc sống, thậm chí là một cuộc sống bị thiêu đốt, hoặc đau đớn đi nữa cũng không quan trọng [miễn còn sống là được]”.

Ngài tổng thống Hugo Chavéz bị ung thư. Khi ĐGH Bênêđictô XVI sang thăm Cuba (từ 26 đến 28-3-2012), tổng thống Hugo Chavéz đã có mặt tại đó vào ngày 24-3-2012 để xạ trị và ông tỏ ý muốn được gặp ĐGH. Tuy nhiên, sau đó chuyện không thành. Thiết tưởng điều đó cũng không thành vấn đề.

Vấn đề cần lưu ý ở đây là “lòng thành” của một vị tổng thống. Có thể chính căn bệnh ung thư của ông khiến ông đang phải đối diện với cái chết, và cũng nhờ đó mà ông biết cầu nguyện, biết khao khát, biết trông mong và biết tín thác vào Thiên Chúa. Thánh Ý Chúa quá mầu nhiệm!

Theo Thánh Phaolô, chúng ta “đừng hoá ra ngu xuẩn, nhưng hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa” (Ep 5:17), và “xin cho ý Chúa được thể hiện!” (Cv 21:14). Đó là điều tối cần thiết đối với chúng ta đang trên đường lữ hành tiến về Nước Trời.

Nhờ Ơn Chúa, chúng ta phải quyết tâm và tự nhủ: “Hãy tỉnh thức, hãy đứng vững trong đức tin, hãy làm mọi sự vì đức ái” (1 Cr 16:13-14). Đó là bí quyết sống khiêm nhường và tránh kiêu ngạo, đồng thời là cách sống Mầu nhiệm Phục sinh và sống tinh thần của Lòng Chúa Thương Xót.

TRẦM THIÊN THU

Thứ Năm trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Sự thật buồn ! Apr 12

HOA KỲ (CatholicCulture.org, 11-4-2012) – Theo tin từ Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ (United States Conference of Catholic Bishops – USCCB) công bố ngày 10-4-2012, vụ bê bối lạm dụng ngân quỹ của giáo sĩ Hoa Kỳ chi phí lên tới 108.679.706 USD trong năm 2011.

Theo “Tường trình về Thực hiện về Đặc quyền Bảo vệ Trẻ em và Người trẻ” năm 2011, chỉ có 57% số ngân quỹ này được phân phối để giải quyết (50,4 triệu USD) và điều trị cho các nạn nhân bị lạm dụng (6,1 triệu USD); phần còn lại dùng vào chi phí luật sư (36,7 triệu USD), hỗ trợ người có tội (9,9 triệu USD), và các chi phí khác (5,6 triệu USD).

Vụ bê bối lạm dụng ngân quỹ của giáo sĩ Hoa Kỳ chi phí thêm cho các hội sở tôn giáo là 35.372.010 trong năm 2011. Các chi phí này trong những năm 2004 tới 2011 tới 2.488.405.755 USD: 2.129.982.621 USD đối với các giáo phận và các giáo khu (eparchies), và 358.428.134 USD đối với các hội sở tôn giáo.

Trong năm 2011, có 21 thiếu niên bị lạm dụng bởi 1 linh mục (priest) hoặc 1 phó tế (deacon). Tường trình cho biết “7 vụ được coi là đáng tin bởi việc thi hành luật; 3 vụ không đúng, 5 vụ vi phạm, và 3 vụ vẫn đang điều tra”.

Trong năm 2011, có 683 người thành niên được coi là bị lạm dụng bởi 1 linh mục hoặc 1 phó tế trước đó. Tường trình cho biết: “Các vụ liên quan 551 linh mục và 7 phó tế. Trong số các giáo sĩ bị kết tội, 253 người đã qua đời, 58 người đã hồi tục, 184 người bị cấm thi hành chức vụ, và 281 người bị kiểm điểm”.

Tính chung, 82% số người bị lạm dụng là nam giới, có 11 thiếu niên là nữ giới. Có 68% số vụ “xảy ra trong những năm từ 1960 tới 1984”.

Trong số các phát hiện của bản tường trình:

  • Các giáo phận hoặc giáo khu cung cấp lần đầu tiên đối với 453 người trong năm 2011 tìm sự giúp đỡ bằng việc giải hòa hoặc chữa trị. Có thêm 1.750 người trong những năm qua tiếp tục được các giáo phận hoặc giáo khu giúp đỡ.
  • 50% số nạn nhân từ 10 tới 14 tuổi khi bị lạm dụng. 16% trong độ tuổi 15 và 17 hoặc dưới 10 tuổi. Độ tuổi không được xác định là 1/5 trong số nạn nhân (19%).
  • Thời gian phổ biến nhất trong năm 2011 là thời gian 1975-1979.
  • Chỉ 1% số người lạm dụng là phó tế vĩnh viễn; 1 trong 21 vụ lạm dụng mới đã có liên quan linh mục quốc tế.
  • Tỷ lệ không được chứng minh hoặc không đúng dao động khoảng 11% và 17% trong mỗi 6 năm qua.

Bản tường trình đã phê bình GP Baker, GP Lincoln, và 5 giáo khu Công giáo Đông phương đã không tham dự cuộc kiểm tra các biện pháp theo luật Dallas 2002 của HĐGM Hoa Kỳ. Các giáo khu là Giáo khu Thánh Phêrô cho người Chaldean, Giáo khu Newton cho người Melkite, Giáo khu Đức Mẹ Nareg ở New York cho người Công giáo Armenia, Giáo khu Thánh Josaphat Parma cho người Ukraina, Giáo khu Công giáo Stamford cho người Ukraina, và Giáo khu Đức Mẹ Newark cho người Syriac.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Xã hội  | Leave a Comment
Gx Châu Bình tín thác Lòng Chúa Thương Xót Apr 12

“Hãy nói cho thế giới biết về Lòng Thương Xót của Ta… Đây là dấu hiệu thời kỳ cuối hết, sau đó sẽ là Ngày Công Lý” (Nhật Ký, số 848).

TGP SAIGON – 17 giờ 30 ngày 11-4-2012, thứ Tư trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh, Gx Châu Bình (Giáo hạt Thủ Đức) đã hiệp dâng Thánh lễ ra mắt Ban chấp hành Cộng đoàn Lòng Chúa Thương Xót (CĐ LCTX). Được biết, Gx Châu Bình là giáo xứ đầu tiên của giáo hạt Thủ Đức chính thức có CĐ LCTX, với số hội viên là 150 người.

Ra mắt CĐ LCTX và Ban chấp hành tuyên hứa hôm nay thật ý nghĩa, vì là một ngày trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh, khi cả Giáo hội đang hân hoan kính mừng Mầu nhiệm Phục sinh, mà LTX là tặng phẩm vô giá của Đức Kitô Phục Sinh, và Chúa Nhật kế tiếp là Đại lễ LCTX.

Chủ tế là LM G.B. Võ Văn Ánh, linh mục đặc trách về giáo dân (trực thuộc HĐGMVN) kiêm tổng linh hướng CĐ LCTX của TGP Saigon. Cùng đồng tế có LM Gioan Maria Vianney Phạm Mạnh Cương (CMC), 3 Linh mục Dòng Đồng Công và 1 Phó tế. Số người tham dự Thánh lễ khoảng 400 người, trong đó có 6 thành viên Ban chấp hành CĐ LCTX TGP Saigon và các CĐ LCTX thuộc các giáo xứ lân cận.

Bài đọc hôm nay là sách Công vụ Tông đồ, kể chuyện một người què từ khi lọt lòng mẹ, được người ta khiêng đến cửa Đền Thờ (gọi là Cửa Đẹp) để xin kẻ ra vào Đền Thờ bố thí. Vừa thấy ông Phêrô và ông Gioan sắp vào Đền Thờ, anh liền xin bố thí. Hai ông nhìn thẳng vào anh, và ông Phêrô nói: “Anh nhìn chúng tôi đây!” (Cv 3:4). Anh ta chăm chú nhìn hai ông, tưởng rằng sẽ được cái gì. Bấy giờ ông Phêrô nói: “Vàng bạc thì tôi không có; nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây: nhân danh Đức Giêsu Kitô người Nadarét, anh đứng dậy mà đi!” (Cv 3:6).

Lúc đó, ông Phêrô nắm tay mặt anh và kéo anh chỗi dậy. Lập tức bàn chân và xương mắt cá của anh trở nên cứng cáp. Anh đứng phắt dậy, đi lại được; rồi anh cùng hai ông vào Đền Thờ, vừa đi vừa nhảy nhót và ca tụng Thiên Chúa. Khi người ta nhận ra anh chính là người vẫn ngồi ăn xin tại Cửa Đẹp Đền Thờ, họ kinh ngạc sững sờ về sự việc mới xảy đến cho anh (Cv 3:10).

Dân chúng kinh ngạc vì chưa hề thấy “sự lạ” như vậy. Nhưng những người tin vào tình yêu Thiên Chúa, tin vào Thánh Tâm Chúa, tín thác vào LCTX thì phải bảo nhau: “Hãy tự hào vì danh thánh Chúa” (Tv 105:3). Không tự hào sao được khi “chính Đức Chúa là Thiên Chúa chúng ta, những điều Ngài quyết định là luật chung cho cả địa cầu. Giao ước lập ra, muôn đời Ngài nhớ mãi, nhớ lời đã cam kết đến ngàn thế hệ” (Tv 105:6-9).

Phúc âm hôm nay là trình thuật Lc 24:13-35, kể lại chuyện hai môn đệ trên đường Emmau. Đường từ Giêrusalem tới làng Emmau xa khoảng 11 km. Một khoảng đường dài nếu phải đi bộ. Họ vừa đi vừa trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, Đức Giêsu tiến đến gần mà họ không nhận ra, cứ tưởng là khách qua đường. Mãi đến khi họ mời Chúa Giêsu ở lại vì trời tối, rồi đồng bàn, họ mới nhận ra Thầy mình khi Chúa Giêsu cầm lấy bánh, tạ ơn, và bẻ bánh trao cho họ.

Chúa Giêsu nói với họ: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ!”(Lc 24:25). Đó cũng là lời Ngài trách mỗi chúng ta, vì chúng ta đã và đang nhiều lần không nhận ra Chúa trong lịch sử đời mình và lịch sử nhân loại, không nhận ra dấu chỉ, không nhận ra Ý Chúa, thậm chí là không muốn nhận ra Ý Chúa mà chỉ muốn theo ý mình.

Trong bài giảng, LM Tổng linh hướng Võ Văn Ánh đã dẫn chứng câu Kinh thánh: Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1:17-18). Kinh thánh cũng đã nhiều lần nhắc lời động viên của Đức Kitô: “Đừng sợ! (Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5; Mt 28:10; Mc 5:36; Mc 6:50; Lc 1:13 & 30; Lc 2:0; Lc 5:10; Lc 12:4; Lc 12:7; Lc 12:32; Lc 21:9; Ga 6:20).

Chúa Giêsu đã tha thứ cho chính những người hành hạ mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Đó cũng là chính Ngài trao bao LTX cho chính mỗi chúng ta.

LM Ánh cũng nhắc lại 3 điều trong việc tôn sùng LCTX: Thỉnh cầu (cầu xin LCTX), Thực thi (thực hành LCTX), và Tín thác (tin cậy vào LCTX). Đó là 3 chữ T cần ghi nhớ.

“Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118 và 136). Đó là Mầu nhiệm LCTX, thậm chí chính Chúa Cha cũng không “tha chết” cho Con Yêu Dấu vì muốn cứu độ chúng ta. Chính LCTX khả dĩ thay đổi số phận nhân loại. LCTX thúc đẩy chúng ta PHẢI đáp lại tình yêu bao la và sự hy sinh cao cả của Đức Kitô.

Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã mặc khải Hai Luồng Sáng là biểu tượng của Máu và Nước. Máu là Thánh Thể và sự hy sinh của Chúa Giêsu trên Đồi Can-vê. Nước là Bí tích Rửa tội và Giải tội. Đó là cả một Chuỗi LCTX. Chúng ta không có lý do để làm ngơ!

Tiếp theo là phần tuyên hứa của 6 thành viên Ban chấp hành CĐ LCTX Gx Châu Bình: (1) Vâng phục giáo quyền, (2) Trung thành với linh đạo LCTX, và (3) Nhiệt thành làm tông đồ. Sau đó là phần gắn huy hiệu LCTX cho các hội viên. Trong khi gắn huy hiệu, ca đoàn hát bài thánh ca “Bao La Tình Chúa” của NS Giang Ân thật ý nghĩa: “Hồng ân Chúa như mưa như mưa rơi xuống đời con miên man miên man… Đời có Chúa êm trôi êm trôi… Có Chúa cùng đi con không đơn côi. Ôi, tình tuyệt vời!”.

Tình yêu Chúa tuyệt vời! Thánh Tâm Chúa tuyệt vời! Thánh Thể Chúa tuyệt vời! Và LCTX cũng tuyệt vời!

Gx Châu Bình tọa lạc tại số 470/17 Tỉnh lộ 43, Phường Tam Phú, Quận Thủ Đức, TPHCM. Giáo xứ Châu Bình được các Linh mục Dòng Đồng Công (CMC) thành lập ngày 15-6-1956. Nhà thờ được đại tu và được Đức cố Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình thánh hiến bàn thờ ngày 9-10-1983. Bổn mạng giáo xứ là Mẫu Tâm. Hiện nay, quản xứ là LM Gioan Maria Vianney Phạm Mạnh Cương, CMC. Số giáo dân là 3.300 người.

Hôm nay, Gx Châu Bình đã chính thức tín thác vào LCTX. Đó là một hồng ân kỳ diệu, một niềm hạnh phúc miên man bắt đầu từ hôm nay…!

TRẦM THIÊN THU

DỌC ĐƯỜNG EMMAU
(Lc 24:12-35)
Emmau một buổi chiều tà
Có hai môn đệ bước đi nặng sầu
Con đường thăm thẳm lo âu
Ngổn ngang trăm mối, nát nhàu tâm can
Hòng hôn buông xuống, tối dần
Hai ông sợ bởi xa xăm đường dài
Chợt người khách lạ hỏi ngay:
“Chuyện gì có thể cho tôi cùng bàn?”
Hai ông quá đỗi ngạc nhiên:
“Chắc ông là khách lạ thăm vùng này
Nên ông không biết không hay
Chuyện ở vùng này đã mấy ngày qua
Một người tên gọi Giêsu
Bị người ta giết rất là thảm thương”
Chúa liền nói với họ rằng:
“Các anh như vậy là không hiểu gì!
Chậm tin lời các tiên tri
Đấng Kitô phải ê chề khổ đau
Chịu nhiều nhục nhã, gian lao
Rồi sau đó mới được vào vinh quang”
Ba người đi tới gần làng
Hai ông nài ép khách cùng dừng chân
Khi Ngài cầm bánh tạ ơn
Hai ông tá hỏa, bội phần ngạc nhiên
Nhưng rồi Chúa biến mất liền
Hai ông trở lại Gia-liêm tức thì…
Cuộc đời cũng có lắm khi
Con không thấy được Chúa từ xung quanh
Trong luồng gió mát, trăng thanh
Khi mưa, nắng; giữa khúc quanh đời người
Trong nước mắt, giữa tiếng cười
Khi suy nghĩ, lúc bồi hồi sớm khuya
Trong câu hát, giữa lời thơ
Thành công, thất bại, hoặc là tang thương
Dẫu đời tám hướng, mười phương
Vẫn luôn có Chúa yêu thương đồng hành
TRẦM THIÊN THU
VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Nhà nguyện bằng XƯƠNG Apr 11

Bone Chapel Portugal 550x412 The Bone Chapel of Portugal   A Creepy Sacred Destination  Đó là một nhà thờ ở Bồ Đào Nha. Cấu trúc bên trong hoàn toàn bằng xương người. Bạn tin hay không thì đó cũng vẫn là một nơi thờ phượng. Đó là nhà nguyện Capela dos Ossos (tiếng Bồ Đào Nha nghĩa là Nhà Nguyện Bằng Xương), tọa lạc gần Nhà thờ Thánh Phanxicô ở TP Evora, từ thế kỷ XVI. Nhà nguyện này làm bằng xương của 5.000 tu sĩ.

Quyết định làm nhà nguyện bằng xương là ý tưởng “lạ”, nhưng có nguyên nhân của nó. Thế kỷ XVI, TP Evora có khoảng 43 nghĩa trang chiếm mất nhiều đất. Khi người ta quyết định bỏ các nghĩa trang, thi hài của 5.000 tu sĩ được khai quật. Thế là người ta quyết định dùng xương của các tu sĩ để xây dựng Capela dos Ossos. Tuy nhiên, người ta muốn xương được nhìn thấy để nhắc nhở cái chết, chính vì vậy mà nhà nguyện này có một đặc điểm độc đáo.

Tại cửa nhà nguyện ghi: “Nos ossos que aqui estamos, pelos vossos esperamos”, nghĩa là: “Xương chúng ta ở đây, vì chúng ta chờ đợi xương của mình”. Một lời nhắc nhở hiển nhiên về cái chết của mình vào một ngày nào đó. Điều này thật ý nghĩa trước khi chúng ta bước vào trong để cầu nguyện.

Bên trong, các bức tường là hằng ngàn khúc xương và sọ được sắp xếp rất nghệ thuật. Đặc biệt là thi hài của một phụ nữ và một đứa trẻ treo lơ lửng trên tường. Không ai biết tại sao họ có trong nhà nguyện này. Người ta cho rằng một người đàn ông thế lực đã nguyền rủa họ. Khi họ không được chôn trong các nghĩa địa, thi hài họ được đưa vào nhà nguyện này. Thân xác họ không phân hủy, thế mới lạ. Điều này cũng đáng để chúng ta suy ngẫm.

Nơi có nhiều xương người nhất là Sedlec Ossuary, ở Cộng hòa Séc. Một “thánh địa” khác thường đã dùng các bức họa để trang trí, nơi này có khoảng 40.000 tới 70.000 xương người.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ OddityCentral.com)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Văn hóa  | Leave a Comment
Tội lỗi, tha thứ, và yêu mến Apr 11

“Thiên Chúa nhớ lại Lòng Thương Xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời” (Lc 1:55).

Trình thuật Lc 7:36-50 kể câu chuyện người phụ nữ tội lỗi đã được tha thứ nhờ lòng yêu mến. Câu chuyện này đã gây “khó chịu” cho người thời đó. Thiết tưởng câu chuyện này cũng phù hợp để xét mình khi chúng ta cử hành Đại lễ Lòng Chúa Thương Xót.

Một hôm, có người thuộc nhóm Pharisêu mời Đức Giêsu dùng bữa với mình. Ngài đến nhà người Pharisêu ấy và vào bàn ăn. Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Đức Giêsu đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Ngài mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Ngài. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Ngài và lấy dầu thơm mà đổ lên.

Thánh sử Luca kể ngắn gọn nhưng đầy đủ chi tiết qua các danh từ và động từ: Nước mắt, tóc, dầu thơm; khóc, lau, hôn. Sự việc diễn ra khiến các thực khách phải chú ý. Bữa tiệc này hẳn phải là đại tiệc quan trọng và các thực khách hẳn là những người “tai mắt trong thiên hạ”. Thế mà lại có một người quấy rầy, mà người đó lại là một phụ nữ tội lỗi. Chắc chắn các đại gia kia vô cùng “ngứa mắt”.

Thấy vậy, ông Pharisêu (tức ông Simôn) đã mời Ngài liền nghĩ bụng: “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!” (Lc 7:39). Đức Giêsu biết tỏng ông ta nghĩ gì nên lên tiếng: “Này ông Simôn, tôi có điều muốn nói với ông!” (Lc 7:40a). Có lẽ ông không biết Đức Giêsu biết ý nghĩ của ông nên vẫn “vô tư” thưa: “Dạ, xin Thầy cứ nói”(Lc 7:40b). Đức Giêsu nói: “Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?” (Lc 7:41-42). Một cách so sánh thực tế và dễ hiểu. Vì thế, ông Simôn đáp ngay: “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn” (Lc 7:43a). Đức Giêsu bảo: “Ông xét đúng lắm” (Lc 7:43b).

Chúa Giêsu chỉ hỏi ý kiến ông Simôn bằng một câu hỏi tế nhị, nhưng chính câu hỏi đó lại “chạm” vào nhiều người – kể cả chúng ta ngày nay. Thật vậy, chúng ta thường có ác cảm hoặc định kiến với những người mà chúng ta cho rằng “họ không đạo đức hơn mình”, chúng ta cũng thường xuyên “chụp mũ” hoặc “gắn mác” cho người khác bằng nhiều kiểu. Nếu công tâm nhìn nhận thì chúng ta cũng rất “máu Pharisêu”!

Rồi Chúa Giêsu quay lại phía người phụ nữ, và Ngài nói với ông Simôn: “Ông thấy người phụ nữ này chứ?”(Lc 7:44a). Chúa Giêsu hỏi thật nhẹ nhưng chắc hẳn ông Simôn đau lắm nên cứng họng mà không nói được gì. Chúa Giêsu so sánh: “Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi” (Lc 7:44b-46). Ngài kết luận: “Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít” (Lc 7:47).

Rồi Đức Giêsu nói với người phụ nữ: “Tội của chị đã được tha rồi” (Lc 7:48). Người-phụ-nữ-tội-lỗi-xấu-xa kia đã được hưởng nhờ Lòng Chúa Thương Xót. Còn những người-tưởng-mình-tốt-lành thì đành “trở về tay trắng” (x. Lc 1:53). Hôm đó, trong số thực khách tại nhà ông Simôn đã có những người nghĩ bụng:“Ông này là ai mà lại tha được tội?” (Lc 7:49). Chúa Giêsu biết nhưng Ngài không biện hộ, Ngài chỉ nói với người-phụ-nữ-tội-lỗi: “Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an” (Lc 7:50).

Yêu mến nhiều thì được tha tội nhiều. Thiên Chúa có dư Lòng Thương Xót, Ngài chỉ cần chúng ta có thực sự yêu mến Ngài hay không. Ngài cho mà chúng ta không nhận thì Ngài cũng không ép, vì Ngài luôn tôn trọng tự do của chúng ta. Đức tin và đức mến cần thiết để được ơn tha thứ, được hưởng nhờ Lòng Chúa Thương Xót, và nhờ vậy mà tâm hồn được bình an.

TRẦM THIÊN THU

Tuần Bát Nhật Phục Sinh – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Giáo hội phải khuyến khích công dân Apr 10

MYANMAR (UCANews, 9-4-2012) – Các cuộc bầu cử phụ tại Myanmar ngày 1-4-2012 đã đưa vấn đề trách nhiệm công dân vào những cách mà các cuộc thăm dò quốc gia trước đó không có thể làm hồi năm 2010.
Bà Aung San Suu Kyi, cựu tù chính trị đã chĩa mũi nhọn vào cuộc đắc cử năm 1990, chỉ để xem kết quả bị các vị lãnh đạo quân đội làm ngơ, đã trở thành nghị sĩ Hạ viện.
42 ứng cử viên khác của NLD (Đảng Liên minh Quốc gia Dân chủ) đã chiến thắng trong cuộc bầu cử toàn quốc Myanmar, được coi là tự do và công bằng.
Nhưng sau nhiều năm đàn áp chính trị, nhân dân Myanma đang tích cực trong việc định hình tương lai của họ như là một quốc gia đấu tranh duy trì hệ thống dân chủ.
Đức TGM Charles Bo, TGP Yangon, nói rằng việc mở màn này đã gây ra việc cải cách chính trị gần đây của Tổng thống Thein Sein và hâm nóng mối quan hệ với Tây phương, báo trước cho Giáo Hội tại Myanmar để giúp thúc đẩy sự tham gia hoạt động dân sự và hòa giải.
Đặc biệt, Đức TGM Bo nói rằng các cuộc xung đột đã quấy rối các vùng dân tộc ở Myanmar các thập niên qua phải chấm dứt nếu nền dân chủ phát triển. Ngài nói: “Chỉ có hòa bình nếu có hòa giải, sẽ đạt được sự phát triển nếu có hòa bình đích thực”.
Ngài khen ngợi sự hy sinh và sự cam kết của bà Suu Kyi đối với nhân dân Myanmar, khi bà nói rằng ảnh hưởng của bà sẽ mở rộng vượt ra ngoài số cử tri nông thôn nhỏ bé của Khawmu ở châu thổ Irrawaddy mà bà đại diện. Đức TGM Bo nói: “Tôi cho rằng tiếng nói của bà sẽ được lắng nghe không chỉ trong nước mà cả khắp thế giới”.
Trong khi chiến thắng của bà trong các cuộc bầu cử phụ đã được tổ chức rộng rãi trên khắp đất nước, điều đó cũng đã dẫn một số để xem xét việc bà ấy có thể giữ vai trò rộng hơn trong chính phủ vào những năm tới. Đức TGM Bo nói rằng ngài hy vọng hiến pháp hiện hành, đảm bảo 25% số ghế quốc hội đối với quân đội, sẽ được sửa đổi, và một ngày nào đó bà Suu Kyi có thể giữ một vai trò chính trị lớn hơn nhiều.
Five decades ago, Catholics took an active role in nation building, in education, health and in so many social fields, he says.
Trong khi các cải cách chính trị lấy cảm hứng nhiều người hy vọng về sự thay đổi thực sự và lâu dài, Đức TGM Bo nói rằng vẫn còn nhiều điều phải được thực hiện trong việc giáo dục mọi người về những gì có nghĩa là được tự do – một vai trò mà ngài coi là thích hợp cho Giáo hội. Ngài nói: “Năm mươi năm trước, người Công giáo đã từng giữ các vai trò tích cực trong việc xây dựng đất nước, y tế, giáo dục và trong rất nhiều lĩnh vực xã hội khác”.
Ngài nói thêm: “Tự do đích thực là có thể làm những gì đúng, trung thực, chân thành, và tinh khiết, và không làm chỉ đơn giản là những gì người ta muốn làm. Sự tôn trọng đối với luật pháp, đối với người khác và tôn giáo khác là những thách thức trong quá trình tiếp tục cải cách”.
TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Xã hội  | Leave a Comment
Mầu nhiệm Lòng Chúa Thương Xót Apr 10

(Chúa Nhật II Phục sinh, năm B)

Chúa Nhật II Phục sinh trước đây được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, nay được gọi là Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót (LCTX). Hai cách gọi nhưng vẫn là một, không hề đối nghịch. Vả lại, đó cũng chính là ước muốn của Chúa Giêsu đã mặc khải với Thánh Faustina.

Kinh thánh luôn nói đến LCTX, đặc biệt trong Phúc âm có một số dụ ngôn “điển hình” về Lòng Chúa Thương Xót: Người Samari Tốt Lành (Lc 10:30-37), Con Chiên Bị Mất (Lc 15:4-7), Đồng Bạc Bị Mất (Lc 15:8-10), và Người Cha Nhân Hậu (Lc 15:11-32).

Sách Công vụ Tông đồ cho biết: “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung” (Cv 4:32). Đó là một thế giới đại đồng lý tưởng biết bao!

Alleluia! “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:24). Các Tông đồ đã có thể can đảm “làm chứng Chúa Giêsu đã sống lại”, đó là “nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban” và “Ngài ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng” (Cv 4:33). Đặc biệt, “trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tuỳ theo nhu cầu” (Cv 4:34-35).

Điều đó chứng tỏ người ta đầy Ơn Chúa và thực sự có Chúa trong tâm hồn. Khi có Chúa trong mình, người ta biết khước từ cái-TÔI-đáng-ghét, biết sống đại lượng hơn, biết CHO hơn là NHẬN, biết sống VỚI và sống VÌ người khác. Đó là cách sống mầu nhiệm Đức Kitô phục sinh.

“Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” là điệp ca trong Tv 118, đặc biệt trong Tv 136. Tác giả Thánh vịnh cho biết: “Chúng xô đẩy tôi, xô cho ngã, nhưng Chúa đã phù trợ thân này. Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi” (Tv 118:13-14), bởi vì “tay hữu Chúa giơ cao, tay hữu Chúa đã ra oai thần lực” (Tv 118:15). Thiên Chúa luôn làm những việc lạ lùng, hoàn toàn “ngược đời”, ngoài sức tưởng tượng của con người: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường” (Tv 118:22). Vì “đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” và là “ngày Chúa đã làm ra”, nên chúng ta “hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:23-24).

Thánh sử Gioan nói: “Ai tin Đức Giêsu là Đấng Kitô, kẻ ấy đã được Thiên Chúa sinh ra. Và ai yêu mến Đấng sinh thành, thì cũng yêu thương kẻ được Đấng ấy sinh ra” (1 Ga 5:1). Tôi được Thiên Chúa tái sinh, bạn cũng được Thiên Chúa tái sinh, vậy tôi phải yêu thương bạn, nếu không thì tôi là chỉ người ích kỷ và nói dối. Yêu thương cũng là thương xót. Thánh Gioan phân tích: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được mình yêu thương con cái Thiên Chúa: đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành các điều răn của Ngài. Quả thật, yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người. Mà các điều răn của Người có nặng nề gì đâu, vì mọi kẻ đã được Thiên Chúa sinh ra đều thắng được thế gian” (1 Ga 5:2-4). Thánh Gioan nói “có nặng nề gì đâu”, thế nhưng lại không hề đơn giản, nếu không cầu nguyện và cố gắng thì không dễ thực hiện “luật nhẹ nhàng” ấy của Chúa.

Chúng ta thắng được thế gian là nhờ lòng tin, không tin thì không thể làm gì, điều này chứng tỏ lòng tin cực kỳ quan trọng, Chúa Giêsu đã luôn nhắc nhở về lòng tin. Thánh Gioan đặt vấn đề: “Ai là kẻ thắng được thế gian, nếu không phải là người tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa?” (1 Ga 5:5). Câu hỏi đó cũng chính là câu trả lời. Thánh Gioan giải thích luôn: “Chính Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến, nhờ Nước và Máu; không phải chỉ trong Nước mà thôi, nhưng trong Nước và trong Máu. Chính Thần Khí Chúa là chứng nhân, và Thần Khí Chúa là sự thật” (1 Ga 5:6). Máu và nước rất mềm nhưng lại không gì mạnh bằng, thiếu máu và nước thì không ai khả dĩ sống!

Chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” (Ga 20:19). Nói xong, Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn. Ngài cho các ông xem để trấn an và củng cố đức tin cho họ. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Ngài lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20:21). Rồi Ngài thổi hơi vào họ và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20:22-23). Ngài “sai đi” là Ngài trao trọng trách, nhưng Ngài cũng ban Chúa Thánh Thần để hỗ trợ chúng ta hằng ngày.

Chúa Giêsu đã dùng Máu và Nước để rửa sạch tội lỗi và tái sinh chúng ta, đồng thời ban Thần Khí Chúa để giúp chúng ta can đảm làm chứng về LCTX vô biên, vì Ngài biết chúng ta còn “yếu cơ” lắm!

Một người trong Nhóm Mười Hai là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!”. Ông Tôma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20:25). Động thái của ông Tôma cũng chính là động thái của chúng ta, vì đôi khi ngay lúc chúng ta nói tin nhưng hành động của chúng ta lại không chứng tỏ niềm tin đó, thậm chí là trái ngược!

Và tám ngày sau, các môn đệ lại có mặt trong nhà, lần này có cả ông Tôma. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Rồi Ngài bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20:27). Ông Tôma hết hồn và choáng váng, liền thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20:28). Ông không nói tin hay không, nhưng câu “lạy Chúa” của ông đã nói lên tất cả. Đức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Nếu chúng ta thật lòng tin Chúa-Giêsu-tử-nạn-và-phục-sinh thì chúng ta có phúc hơn Tông đồ Tôma đấy!

Thánh sử Gioan kết luận: “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Ngài” (Ga 20:30-31).

LCTX thật là mầu nhiệm biết bao! Chúng ta được tận hưởng LCTX thì chúng ta phải thực thi LCTX với tha nhân: “Phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4:32). Trong tâm tình đó, Tông đồ Giuđa gởi lời chúc tới tất cả chúng ta: “Chúc anh em được đầy tràn lòng thương xót, sự bình an và tình thương” (Gđ 1:2), và “hãy cố gắng sống mãi trong tình thương của Thiên Chúa, hãy chờ đợi lòng thương xót của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, để được sống đời đời” (Gđ 1:21).

Lạy Thiên Chúa hằng hữu, xin thương xót chúng con. Vì cuộc khổ nạn đau thương của Đức Giêsu Kitô, xin thương xót chúng con và toàn thế giới. Xin Thánh Faustina và Chân phước Gioan Phaolô II nâng đỡ chúng con luôn. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Lòng Chúa Thương Xót trong Kinh thánh Apr 10

LỜI NGỎ: Bài viết này dựa vào Tông thư “Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót” [Rich in Mercy (Anh ngữ), Dives in Misericordia (La ngữ)] của Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Đây là loại bài “cao cấp” nên rất khó lĩnh hội ngay, vì thế bạn cần đọc chậm và suy nghĩ nhiều theo linh hứng của Chúa Thánh Thần. Đừng đọc cả một lúc, mỗi lần đọc một ít. Chúc bạn được Chúa Thánh Thần linh hứng để hiểu đúng linh đạo này. Xin mời bạn!


Khi diễn tả Lòng Chúa Thương Xót (LCTX), các sách Cựu ước dùng 2 cách diễn tả đặc biệt, mỗi câu đều có một sắc thái khác nhau về ngữ nghĩa.

Trước hết, thuật ngữ “hesed” ngụ ý một thái độ sâu sắc của “lòng tốt”. Khi điều này được thiết lập giữa hai cá nhân, họ không chỉ muốn tốt cho nhau mà họ còn tin tưởng nhau bằng sự thầm hứa trong lòng, và trung thành với nhau. Vì “hesed” cũng có nghĩa về ân huệ hoặc yêu thương, điều này xảy ra đúng theo nền tảng của lòng trung thành. Sự thật là sự tận tụy được nói tới không chỉ là đặc tính luân lý mà còn hầu như là đặc tính pháp lý tạo sự khác biệt.

Cựu ước dùng từ “hesed” để nói về Thiên Chúa, điều này luôn xảy ra khi liên kết với giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập với dân Israel. Đối với Thiên Chúa, giao ước này là tặng phẩm và ân huệ dành cho dân Israel. Do đó, Thiên Chúa đã hứa tôn trọng giao ước, “hesed” cũng cần một ý nghĩa hợp pháp phù hợp với giao ước.

Lời hứa theo pháp lý về phần Thiên Chúa bắt buộc dân Israel không được vi phạm giao ước và phải tôn trọng các điều kiện của giao ước. Nhưng ở điểm này, “hesed” không là pháp lý, được mặc khải phương diện sâu xa hơn, cho thấy chính nó là gì ngay từ đầu, nghĩa là tình yêu đã được trao ban, tình yêu mạnh hơn sự phản trắcân sủng mạnh hơn tội lỗi.

Lòng tín trung này đối với con-gái-bất-trung-của-dân-tộc: “Ngay cả lũ chó rừng cũng biết chìa vú cho con bú, thế mà con gái dân tôi lại dữ dằn hung bạo như đà điểu chốn hoang địa khô cằn. Thiếu nữ dân tôi gian ác tầy trời vượt xa cả Xô-đôm tội lỗi; thành đó bị đổ nhào trong nháy mắt, chẳng cần ai phải nhúng tay vào” (Ac 4:3, 6). Tóm lại, đối với Chúa, đó là lòng tín trung đối với chính Ngài. Điều này trở thành hiển nhiên thường xuyên ở cả hai dạng “tận tụy” mà chúng ta gặp (ân sủng và tín trung), có thể được coi là trường hợp của phép thế đôi (hendiadys, cách dùng liên từ “và” giữa 2 từ ngữ), ví dụ: Xh 34:6; 2 Sm 2:6; 15:20; Tv 25 [24]:10; 40 [39]:11-12; 85 [84]:11; 138 [137]:2; Mi 7:20).

“Ngươi hãy nói với nhà Israen: Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Hỡi nhà Ítraen, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, mà vì danh thánh của Ta đã bị các ngươi xúc phạm giữa các dân các ngươi đã đi đến” (Ed 36:22). Do đó mà dân Israel, mặc dù nhiều tội lỗi vì vi phạm giao ước, không thể yêu cầu “hesed” của Thiên Chúa theo pháp lý, nhưng họ có thể và phải tiếp tục hy vọng và tin sẽ được điều đó, vì Thiên Chúa của giao ước thực sự “chịu trách nhiệm về tình yêu của Ngài”.

Thành quả của tình yêu này là ơn tha thứ và phục hồi ân sủng, tái lập giao ước nội tại. Từ ngữ thứ hai theo thuật ngữ Cựu ước xác định Lòng Thương Xót là “rahamim”.

Đây là sự khác biệt của “hesed”. Trong khi “sự tận tụy” làm nổi bật lòng tín trung của “trách nhiệm đối với tình yêu của mình” (theo nghĩa nam tính), “rahamim” theo chính nguyên ngữ đã bao hàm tình yêu của người mẹ (rehem = tử cung).

Từ hệ lụy nguồn gốc và sâu xa – thực sự là sự kết hợp – liên kết người mẹ với đứa con làm nảy sinh mối quan hệ đặc biệt với đứa con, một tình yêu đặc biệt. Với tình yêu này, người ta có thể nói rằng đó là “hoàn toàn cho không”, vô điều kiện, và về phương diện này nó cấu thành sự cần thiết nội tại: Tình trạng cấp bách của con tim.

Như vậy, đó là sự biến đổi “nữ tính” của lòng tín trung nam tính đối với chính nó được diễn tả bằng từ ngữ “hesed”. Đối với nền tảng tâm lý này, “rahamim” phát sinh một loạt cảm xúc, kể cả lòng tốt và dịu dàng, kiên nhẫn và hiểu biết, nghĩa là sẵn sàng tha thứ.

Cựu ước quy cho Thiên Chúa các đặc tính này khi dùng thuật ngữ “rahamim” để nói về Ngài. Chúng ta đọc thấy trong sách Isaia: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49:15).

Tình yêu này là lời cảm tạ tín thành đối với sức mạnh mầu nhiệm của tình mẫu tử, được diễn tả trong Cựu ước bằng nhiều cách: Cứu thoát khỏi mọi nguy hiểm, nhất là thoát khỏi kẻ thù; tha thứ tội lỗi – của từng người và của cả toàn dân Israel – cuối cùng là sẵn sàng làm trọn lời hứa và niềm cậy trông, mặc dù nhân loại bất trung, như chúng ta thấy trong sách Hôsê: “Ta sẽ chữa chúng khỏi tội bất trung, sẽ yêu thương chúng hết tình, vì cơn giận của Ta sẽ không còn đeo đuổi chúng” (Hs 14:5).

Theo cách nói của Cựu ước, chúng ta cũng thấy những cách diễn tả khác, ngụ ý nhiều cách đối với ngữ cảnh cơ bản. Nhưng cả hai cách nói trên đều đáng lưu ý đặc biệt, cho thấy rõ phương diện theo thuyết hình người nguyên thủy (original anthropomorphic aspect): Khi diễn tả LCTX, các tác giả Kinh thánh dùng cách nói phù hợp với lương tâm và kinh nghiệm của những người đương thời.

Thuật ngữ Hy Lạp theo bản dịch “Bảy Mươi” (*) không cho thấy như bản cổ ngữ Do Thái: Vì thế nó không đưa ra tất cả sự khác biệt về ngữ nghĩa riêng đối với văn bản gốc. Dù ở mức nào, Tân ước cũng dựa vào sự phong phú và độ sâu ghi dấu cổ.

Theo cách này, chúng ta thừa hưởng từ Cựu ước – theo cách tổng hợp – không chỉ phong phú về cách diễn tả được các sách đó dùng để xác định LCTX, mà còn về “tâm lý” của Thiên Chúa theo thuyết hình người: Hình ảnh về tình yêu khắc khoải của Ngài, khi tiếp xúc với điều ác, nhất là với tội lỗi của cá nhân và dân tộc, được biểu hiện là LTX.

Hình ảnh này được tạo nên không chỉ về ngữ cảnh tổng quát của động từ “hanan” mà còn về ngữ cảnh của từ ngữ “hesed” và “rahamim”. Thuật ngữ “hanan” diễn tả một khái niệm rộng hơn, thực sự có nghĩa là cách biểu hiện của ân sủng, liên quan một bẩm chất kiên định (constant predisposition) là khoan hồng, nhân từ và thương xót.

Thêm vào các yếu tố ngữ nghĩa, khái niệm của Cựu ước về LCTX cũng được tạo nên từ những gì bao hàm trong động từ “hamal”, theo nghĩa đen là “tha chết” (một kẻ thù chiến bại) nhưng cũng “tỏ lòng thương xót và trắc ẩn”, vì thế mà tha thứ và miễn trừ tội lỗi.

Còn có thuật ngữ “hus” diễn tả lòng thương xót và trắc ẩn, nhưng đặc biệt mang ý nghĩa xúc động. Các thuật ngữ này xuất hiện ít hơn trong các văn bản Kinh thánh khi diễn tả LCTX.

Ngoài ra, nên chú ý từ ngữ “emet” đã được nói tới. Nó có nghĩa ban đầu là “sự vững chắc, sự an toàn” (theo Hy ngữ của bản Bảy Mươi là “chân lý”) và khi đó có nghĩa là “lòng thành tín”. Theo cách này, nó có vẻ liên kết với ngữ nghĩa riêng đối với thuật ngữ “hesed”. Ở cả 2 nơi, đó là trường hợp của “hesed”, nghĩa là lòng thành tín mà Thiên Chúa thể hiện tình yêu của Ngài đối với dân, trung thành với điều Ngài hứa là sẽ làm trọn trong tình mẫu tử của Mẹ Thiên Chúa (x. Lc 1:49-54), như Kinh thánh nói: “Chúa sẽ trọn bề nhân nghĩa với tổ tiên và nhớ lại lời xưa giao ước” (Lc 1:72). Đây cũng là trường hợp của LCTX theo nghĩa của từ “hesed”, theo mức của những câu theo sau, những câu mà Dacaria nói về “LTX nhân hậu của Thiên Chúa”, diễn tả rõ ràng nghĩa thứ hai, nghĩa là “rahamim” (bản La ngữ: Viscera Misericordiae), đồng hóa LCTX với tình thương của người mẹ.

CỰU ƯỚC

Cựu ước hiểu LCTX bằng cách dùng nhiều thuật ngữ có ý nghĩa liên quan, khác nhau bằng nội dung riêng, nhưng có thể nói được rằng chúng đều đồng quy từ những hướng khác nhau theo nghĩa cơ bản, diễn tả sự phong phú nổi bật và gần gũi với con người với các phương diện khác nhau.

Cựu ước khuyến khích mọi người chịu đựng nỗi bất hạnh, nhất là nỗi đau khổ do tội lỗi – như dân Israel được Thiên Chúa hứa ban giao ước – để cầu xin LTX của Thiên Chúa, và làm cho những nỗi bất hạnh đó trở thành niềm hy vọng, nhắc nhở về LCTX trong những lúc thất bại và mất niềm tin.

Cựu ước cũng luôn dâng lời tạ ơn về LCTX, thể hiện trong đời sống của toàn dân và mỗi cá nhân. Theo cách này, LCTX tương phản với sự công thẳng của Thiên Chúa theo nghĩa nào đó, và trong nhiều trường hợp được thể hiện không chỉ mạnh hơn mà còn sâu sắc hơn công lý. Cũng vậy, tình yêu tác động tới công lý, và cuối cùng thì công lý phục vụ tình yêu.

Cựu ước còn dạy rằng, dù công lý là một nhân đức đích thực nơi con người, và nơi Thiên Chúa biểu hiện sự hoàn hảo trong suốt, do đó mà tình yêu “lớn hơn” công lý – lớn hơn về ý nghĩa nguyên thủy và cơ bản.

Tính ưu việt và nổi trội của tình yêu có liên quan công lý – đây là dấu ấn của toàn bộ mặc khải – được mặc khải chính xác qua LTX. Điều này có vẻ minh nhiên đối với các tác giả thánh vịnh và các tiên tri mà công lý kết thúc theo nghĩa Ơn cứu độ được hoàn tất bởi chính Thiên Chúa và LCTX [Tv 40 (39):11; 98 (97):2; Is 45:21; Is 51:5 & 8; Is 56:1].

LCTX khác với công lý, nhưng không đối lập, nếu chúng ta nhận theo lịch sử con người – như Cựu ước đã thể hiện chính xác – sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa đã tự liên kết với thụ tạo của Ngài bằng một tình yêu đặc biệt.

Theo bản chất, tình yêu loại trừ thù hận và ý xấu đối với người mà Ngài đã trao tặng phẩm là chính mình: “Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Ngài đã làm ra” (Kn 11:24). Những từ này cho thấy cơ bản thâm sâu của mối quan hệ giữa công lý và LTX nơi Thiên Chúa, trong mối quan hệ của Ngài với con người và thế giới.

Những lời đó cho chúng ta biết rằng chúng ta phải tìm kiếm nguồn gốc của việc trao ban sự sống và các lý do thân thiết đối với mối quan hệ này bằng cách trở lại từ “sự bắt đầu”, trong chính mầu nhiệm sáng tạo. Những lời đó báo trước Giao ước cũ (Cựu ước), sự mặc khải viên mãn của Thiên Chúa, Đấng mệnh danh là “tình yêu” (1 Ga 4:15 & 16).

Nối kết với mầu nhiệm sáng thế là mầu nhiệm của sự chọn lựa, theo cách đặc biệt mà hình thành lịch sử con người có người cha tâm linh là Abraham nhờ đức tin. Do đó, qua dân tộc này mà các hành trình xuyên suốt lịch sử Cựu ước và Tân ước, mầu nhiệm của sự chọn lựa nói đến mỗi người trong đại gia đình nhân loại.

“Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31:3). “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, giao ước hoà bình của Ta cũng chẳng chuyển lay, Đức Chúa là Đấng thương xót ngươi phán như vậy” (Is 54:10). Sự thật này, đã từng được công bố với dân Israel, liên quan viễn cảnh của toàn lịch sử con người, cả viễn cảnh thời gian và thế mạt (Gn 4:2, 11; Tv 145 (144):9; Hc 18:8-14; Kn 11:23-12:1).

Đức Kitô mặc khải Chúa Cha trong cùng viễn cảnh và theo nền tảng đã được chuẩn bị, như nhiều trang Cựu ước mô tả. Cuối mặc khải này, vào đêm trước khi chịu chết, Chúa Giêsu nói với tông đồ Philipphê lời đáng ghi nhớ này: “Thầy ở với anh em bấy lâu, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9).

TÂN ƯỚC

Ngay đầu Tân ước, hai tiếng nói vang lên trong Phúc âm thánh Luca phù hợp việc liên quan LCTX – một sự hài hòa vang dội cả truyền thống Cựu ước. Đức Maria vào nhà ông Dacaria, tán tụng Chúa bằng cả linh hồn vì LXT của Chúa, điều mà “từ đời nọ đến đời kia” được trao ban cho những ai kính yêu Ngài.

Sau đó, khi Đức Mẹ nhớ lại sự tuyển chọn dân Israel, Đức Mẹ đã tuyên xưng LCTX mà Ngài đã chọn Đức Mẹ là người được mọi thời khen là “đầy ơn phúc” (x. Lc 1:49-54). Khi Gioan Tẩy giả chào đời, ông Dacaria ca tụng Thiên Chúa của Israel và tôn vinh Ngài vì đã tỏ LTX như đã hứa với các tổ phụ và vì đã nhớ giao ước thánh của Ngài (x. Lc 1:72). Đây cũng là trường hợp của LCTX theo nghĩa của từ “hesed”, điều mà ông Dacaria nói về “lòng nhân hậu của Thiên Chúa”, được diễn tả rõ theo nghĩa thứ hai, nghĩa là “rahamim” (La ngữ là viscera misericordiae), xác định LCTX như tình mẫu tử.

Trong giáo huấn của chính Chúa Giêsu, hình ảnh này kế thừa từ Cựu ước trở nên đơn giản hơn và sâu xa hơn. Đây có thể là điều hiển nhiên nhất trong dụ ngôn về đứa con hoang đàng (x. Lc 15:14-32). Dù từ ngữ “lòng thương xót” không xuất hiện, nhưng vẫn diễn tả rõ ràng bản chất của LCTX.

Đó là mầu nhiệm của LCTX, một kịch bản thâm thúy thể hiện Tình Cha đối với đứa con hoang đàng và tội lỗi. Người con đó không chỉ được hồi phục quyền làm con mà còn được tiếp tục thừa kế gia sản của người cha dù đã ăn chơi phung phí hết phần gia sản riêng. Ăn năn và trở về, nhận lỗi và xin lỗi, tất cả lại trở về nguyên trạng của người con. Tình Chúa quá bao la và kỳ diệu!

“Khi tiêu xài hết mọi thứ”, người con “bị túng quẫn”, nhất là “nạn đói xảy ra trong vùng đó” đến nỗi người con “thèm ăn cám heo” mà cũng không được ăn, thế là người con phải quyết định về nhà cha: “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà mình ở đây lại chết đói!” (Lc 15:17). Việc trở về của người con có thể chỉ là vạn bất đắc dĩ, nhưng ít nhiều gì anh cũng nhận thấy mình bất xứng và chỉ dám xin cha coi mình như tôi tớ: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy” (Lc 15:18-19). Thế nhưng anh không thể tin những gì anh thấy: Người cha ra ôm anh vào lòng, làm tiệc mừng, cho mang đồ mới và giày mới. Dụ ngôn này đã “chạm” đến giao-ước-tình-yêu, “chạm” đến mọi tình trạng mất ân sủng và mọi tội lỗi.

Theo nhận thức, người con này lý luận để khả dĩ thấy rằng mình đã hoàn toàn bất xứng, không còn mối quan hệ mật thiết của tình phụ tử. Do đó mà người con quyết định đứng dậy và trở về với cha. Dám trở về là can đảm, vì dù sao cũng đã bẽ mặt và nhục nhã, nhưng không mặc cảm tội lỗi. Người con hoang đàng nhận thấy mình không có quyền đòi hỏi gì nữa, không đáng là con, may lắm cũng chỉ mong được làm người giúp việc trong nhà cha mình thôi. Người con đã nhận thức đầy đủ về tình trạng bất xứng của mình và “đáng đời” thế nào theo công lý. “Quyết định dứt khoát trở về” là động thái rất quan yếu. Lúc đó, con người phải giằng co âm thầm rất mãnh liệt. Đó chính là động thái trưởng thành trong đức tin – tin vào LCTX và tin mình được thứ tha.

Trong dụ ngôn “người con hoang đàng”, thuật ngữ “công bình” không được dùng, và trong nguyên bản cũng không dùng từ “lòng thương xót”. Mối quan hệ giữa công bình và yêu thương được biểu hiện như LCTX, đồng thời được khắc sâu bằng tính chính xác trong nội dung của dụ ngôn.

Rõ ràng hơn là tình yêu được biến đổi thành LCTX khi cần có quy luật chính xác của sự công bình. Người con hoang đàng không còn xứng đáng sau khi ăn chơi sa đọa, trắng tay khi trở về với cha, nhưng được cha tha bổng, và dần dần người con được vun đắp về vật chất và tinh thần, dù có thể không bao giờ được đầy đủ như xưa. Tình phụ tử được khôi phục là nhờ tính cao thượng và tình thương của người cha.

Mối quan hệ như vậy không bao giờ có thể bị thay đổi hoặc bị phá hủy bằng bất cứ động thái nào. Người con hoang đàng biết vậy và biết mình phải làm gì để chuộc lỗi lầm, đó là lúc người ta biết rõ mình để có thể sống khiêm nhường hơn.

Hình ảnh người con hoang đàng giúp chúng ta nhận biết LCTX là gì và như thế nào. Chắc chắn đây là mặc khải về Thiên Chúa Cha, giúp chúng ta tái phát hiện cách nhìn của Cựu ước về LCTX luôn mới, vừa đơn giản vừa sâu xa.

Người cha của đứa con hoang đàng luôn trung thành với cương vị làm cha, trung thành với tình yêu bao la mà ông luôn dành cho con mình. Do đó mà người cha luôn chờ đợi và sẵn sàng tha thứ nếu đứa con biết trở về. Tình yêu ấy là LTX, kỳ lạ đến nỗi không ai khả dĩ hiểu hết. Người cha ấy đã tha thứ thì không còn phân biệt gì so với đứa con vẫn ngoan ngoãn ở với mình. Người con ngoan ngoãn đã so đo nhưng người cha đã phân tích rõ ràng để huynh đệ vẫn hiếu thuận với nhau.

Người cha trung tín với chính mình – một đặc điểm mà Cựu ước dùng thuật ngữ “hesed” – ngay khi diễn tả bằng cách thể hiện tình phụ tử. Thật vậy, chúng ta đọc thấy rằng khi người cha thấy đứa con hoang đàng trở về, ông đã chạnh lòng trắc ẩn, chạnh LTX, chạy ra đón nó, ôm nó trước khi nó ôm mình, rồi hôn nó (Lc 15:20). Chắc chắn ông làm điều này vì yêu thương con sâu sắc lắm, và điều này cũng bày tỏ lòng đại lượng dành cho con, lòng đại lượng đó đã khiến người con lớn phải tức giận. Lời người cha nói với người con lớn giản dị mà thâm sâu: “Chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15:32).

Trong Phúc âm của thánh sử Luca có dụ ngôn Con Chiên Lạc (x. Lc 15:4-7) và dụ ngôn Đồng Bạc Bị Mất (x. Lc 15:8-9). Mỗi lần đều có mức nhấn mạnh tương tự về niềm vui có trong trường hợp của đứa con hoang đàng (x. Lc 15:11-32). Lòng thành tín của người cha hoàn toàn được tập trung vào tính nhân bản đối với đứa con hư hỏng, về nhân phẩm của đứa con.

Điều này giải thích mọi niềm vui nỗi mừng lúc đứa con trở về nhà. Do đó người ta có thể nói rằng tình thương dành cho đứa con là tình yêu xuất phát từ chính bản chất tình phụ tử, theo cách thức bắt buộc người cha quan tâm đến nhân phẩm của đứa con. Mối quan tâm này là thước đo tình yêu thương của người cha, tình yêu thương mà thánh Phaolô diễn tả: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được. Ơn nói tiên tri ư? Cũng chỉ nhất thời. Nói các tiếng lạ chăng? Có ngày sẽ hết. Ơn hiểu biết ư? Rồi cũng chẳng còn” (1 Cr 13:4-8).

Lòng Thương Xót – như Đức Kitô đã bày tỏ trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu (hoặc dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng) – có dạng nội tại của tình yêu trong Tân ước gọi là “agape”. Tình yêu thương này có thể đạt tới mọi đứa con hoang đàng, tới mọi nỗi khổ đau của con người, tới cả nỗi khốn khổ luân lý và tội lỗi.

Khi điều này xảy ra, con người là khách thể của LTX mà không hề cảm thấy bị hạ nhục, mà cảm thấy lại được tìm thấy và “được phục hồi giá trị”. Người cha bày tỏ niềm vui mừng đối với đứa con vừa “được tìm thấy” và như “chết sống lại”.

Niềm vui này thể hiện cái tốt nguyên trạng, dù đứa con hoang đàng cũng không thể ngăn cản tình cha thương con. Niềm vui đó còn thể hiện cái tốt lại được tìm thấy, khi đứa con trở về thú nhận tội lỗi. Điều xảy ra giữa mối quan hệ phụ tử trong dụ ngôn của Chúa Giêsu không được đánh giá “từ bên ngoài”. Định kiến của chúng ta về LTX đa số là hậu quả của việc chúng ta đánh giá theo bề ngoài.

Thi thoảng điều này xảy ra bằng cách theo phương pháp đánh giá mà chúng ta thấy trong LTX vượt trên mọi mối quan hệ bất bình đẳng giữa người trao LTX và người nhận LTX. Do đó, chúng ta vội vã “chiết khấu” LTX mà “thu nhỏ” người nhận, cho nên chúng ta xúc phạm nhân phẩm người khác.

Dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng cho thấy thực tế khác hẳn: Mối quan hệ của LTX dựa trên kinh nghiệm chung của cái tốt là con người, kinh nghiệm chung của phẩm chất đúng nơi con người. Kinh nghiệm chung này làm cho đứa con hoang đàng bắt đầu tự nhận thấy mình và hành động của mình bằng sự thật trọn vẹn (đó là khiêm nhường). Mặt khác, vì chính lý do này mà đứa con trở thành cái tốt riêng của người cha: Người cha thấy rõ cái tốt đạt được nhờ mầu nhiệm của chân lý và yêu thương để người cha có vẻ quên mọi tội lỗi mà đứa con đã phạm.

Hoán cải là cách diễn tả cụ thể nhất về tác dụng của tình yêu và sự hiện hữu của LTX trong thế giới loài người. Dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng diễn tả theo cách đơn giản nhưng sâu sắc trong thực tế cải tà quy chánh.

Ý nghĩa riêng và đúng của LTX không chỉ bao gồm trong cách nhìn, mà còn xuyên suốt và đầy lòng trắc ẩn: LTX được diễn tả về phương diện đúng và riêng khi LTX phục hồi để đánh giá, thúc đẩy và thu hút những điều tốt từ mọi dạng của điều xấu hiện hữu trong thế giới và trong con người. Hãy hiểu theo cách này, LTX cấu thành nền tảng của sứ vụ cứu độ và sức mạnh trong sứ vụ của Đức Kitô.

Các tông đồ và các môn đệ của Ngài đã hiểu và thực hành LTX như cách của Ngài. LTX không bao giờ ngừng mặc khải, bằng tâm khảm và trong hành động, như bằng chứng hùng hồn về tình yêu: “Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (x. Rm 12:21). Khuôn mặt đích thực của LTX phải được mặc khải theo cách mới. Mặc dù có nhiều định kiến, LTX vẫn thực sự rất cần thiết trong thời đại chúng ta.

LCTX được mặc khải trên Thánh giá và trong sự Phục sinh

Sứ vụ của Đức Kitô và hoạt động của Ngài giữa nhân loại kết thúc bằng cái chết trên Thập giá và sự Phục sinh. Chúng ta phải thẩm thấu sự kiện cuối cùng này, nhất là theo ngôn ngữ của Công đồng Vatican II xác định là Mầu nhiệm Vượt qua (Mysterium Paschale) – nếu chúng ta muốn diễn tả sâu sắc sự thật về LTX, như được mặc khải trong lịch sử cứu độ.

Ở mức cân nhắc này, chúng ta phải tiếp cận Tông thư Redemptor Hominis (Gioan Phaolô II, 1978). Thật vậy, thực tế của ơn cứu độ, theo chiều kích con người, đã mặc khải những điều chưa từng nghe biết – về sự cao cả của con người, như Bài Exsultet (công bố trong đêm Vọng Phục Sinh) mô tả: “Tội hồng phúc đã ban cho chúng ta Đấng cứu chuộc rất cao sang”, ngay lúc chiều kích cứu độ của Thiên Chúa làm cho chúng ta có thể hồi sinh theo cách kinh nghiệm nhất và lịch sử nhất, để tiết lộ chiều sâu của tình yêu không không chùn bước trước sự hy sinh khác thường của Chúa Con, để thỏa mãn lòng trung thành của Chúa Cha đối với loài người, tạo dựng chúng ta theo hình ảnh Ngài và chọn chúng ta từ khởi nguyên, nơi Chúa Con, đối với ân sủng và vinh quang.

Các sự kiện của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, thậm chí trước đó, trong lời cầu nguyện tại Ghết-si-ma-ni, giới thiệu sự thay đổi nền tảng của toàn bộ sự mặc khải về tình yêu và LTX trong sứ vụ của Đức Kitô. Ngài “thi ân giáng phúc, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế” (Cv 10:38), đồng thời “chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 9:35), chính Ngài thực hiện LTX và kêu gọi LTX, khi Ngài bị bắt, bị đối xử tệ, bị kết án, bị đánh đòn, đội vòng gai, bị đóng đinh vào Thập giá và chết trong đau đớn vô cùng (x. Mc 15:37; Ga 19:30).

Lúc đó Ngài xứng đáng nhận LTX từ những người mà Ngài đã làm tốt cho họ, nhưng Ngài đã không nhận được. Ngay cả những người thân tín nhất cũng không thể bảo vệ Ngài khỏi kẻ ác. Ở giai đoạn cuối cùng của sứ vụ, các lời tiên tri, nhất là của tiên tri Isaia nói về Người Tôi Tớ Đau Khổ, hoàn toàn ứng nghiệm nơi Đức Kitô: “Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53:5).

Đức Kitô, là người chịu đau khổ trong Vườn Cây Dầu và trên đồi Can-vê, đã thưa với Chúa Cha rằng Ngài đã thể hiện tình yêu của Chúa Cha cho mọi người. Nhưng Ngài cũng không được thoát khỏi đau khổ và cái chết trên Thập giá: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5:21).

Thánh Phaolô viết về chiều kích thực tế của ơn cứu độ. Chính ơn cứu độ này là mặc khải tính thánh thiêng của Thiên Chúa, Đấng hoàn thiện, đầy đủ công lý và yêu thương, vì công lý dựa trên yêu thương.

Trong cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Kitô, Chúa Cha không tha chính Con mình, nhưng “vì chúng ta mà tự nhận thân phận như tội nhân”, công lý được diễn tả, Đức Kitô chịu đau khổ và chấp nhận Thập giá vì tội lỗi nhân loại. Điều này cấu thành “sự dồi dào” của công lý, vì tội lỗi của loài người “được đền bù” nhờ sự hy sinh của Thiên-Chúa-Làm-Người.

Công lý này là “tiêu chuẩn của Thiên Chúa”, hoàn toàn nhiệm xuất từ tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, và sinh hoa kết trái trong tình yêu. Vì thế, công lý của Chúa mặc khải trên Thánh giá của Đức Kitô là “chiều kích cùa Thiên Chúa” vì nhiệm xuất từ tình yêu và được hoàn tất trong tình yêu, sinh ra hoa trái ơn cứu độ. Ơn cứu độ liên quan sự mặc khải về LTX viên mãn.

Chiều kích ơn cứu độ được đặt trong hiệu quả không chỉ bằng cách đem lại công lý để chịu đựng tội lỗi, mà còn phục hồi tình yêu nơi con người, vì chính con người đã từng viên mãn sự sống và sự thánh thiện đến từ Thiên Chúa. Theo cách này, ơn cứu độ liên quan sự mặc khải về LTX một cách viên mãn.

Mầu nhiệm Vượt qua là tột đỉnh của sự mặc khải này và hiệu của cùa LTX, có thể biện hộ cho con người, phục hồi công lý theo nghĩa của mệnh lệnh cứu độ mà Thiên Chúa đã muốn từ khi tạo dựng nhân loại. Cuộc khổ nạn của Đức Kitô nói theo cách đặc biệt đối với con người, không chỉ với người có niềm tin.

Những người không có niềm tin cũng có thể khám phá nơi Ngài về mối liên kết với số phận con người, cũng như sự hài hòa trọn vẹn của sự dấn thân vô vị lợi vì con người, vì chân lý và vì yêu thương. Nhưng chiều kích của Mầu nhiệm Vượt qua còn thâm thúy hơn. Thập giá trên đồi Can-vê, nơi mà Đức Kitô đã đối thoại lần cuối với Chúa Cha, nổi bật lên từ chính trái tim yêu thương của con người, vốn được tạo thành giống hình ảnh Thiên Chúa, đã được làm thành tặng phẩm theo kế hoạch đời đời của Thiên Chúa.

Như Đức Kitô đã mặc khải, Thiên Chúa không chỉ thân thiện với thế giới với tư cách Tạo hóa và nguồn hiện hữu, mà Ngài còn là Cha: Ngài liên kết với con người, và Ngài mời gọi họ hiện hữu trong thế giới vô hình, bằng mối liên kết thân mật hơn. Đó là tình yêu không chỉ tạo điều tốt mà còn cho tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Vì Ngài yêu thương và muốn trao ban chính Ngài. Và Ngài cũng mời gọi chúng ta chia sẻ chân lý và tình yêu nơi Thiên Chúa.

Tín điều Công đồng Nicê-Constantinopolitan xác nhận: “Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật”. Thập giá là bằng chứng tuyệt vời về giao ước của Thiên Chúa đối với nhân loại – mỗi con người đều là giao ước này. Thập giá là giao ước mới đã được thiết lập trên đồi Can-vê, không hạn chế với một người nào.

Thập giá của Đức Kitô nói gì với chúng ta? Thập giá lại cho chúng ta một sứ điệp quan trọng: “Đức Kitô phục sinh”.

Những người thấy ngôi mộ trống trở thành nhân chứng về Đức Kitô phục sinh. Nhưng ngay trong vinh quang Thiên Chúa, Thập giá vẫn còn. Thập giá đó vẫn nói và không ngừng nói về Thiên Chúa Cha, Đấng tuyệt đối trung tín với tình yêu đời đời của Ngài đối với con người: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16).

LTX là tình yêu tuyệt đối. Tin vào tình yêu này là tin vào LCTX. Tin vào Chúa Con bị đóng đinh là “thấy Chúa Cha” (x. Ga 14:9), nghĩa là tin tình yêu đó hiện hữu trong thế giới và tình yêu này mạnh hơn mọi điều ác nơi mọi người, nơi nhân loại, hoặc cả thế gian. LCTX là chiều kích tuyệt đối của tình yêu.

Tình yêu mạnh hơn tử thần và mạnh hơn tội lỗi

Thập giá của Đức Kitô trên đồi Can-vê cũng là nhân chứng đối với sức mạnh của sự ác chống lại Con Thiên Chúa, chống lại một người con trong những người con của nhân loại, con người đó có bản chất vô tội, chống lại những người sinh ra trong thế gian chưa bị hoen ố vì sự bất tuân phục của Adam và ảnh hưởng Tội nguyên tổ. Và ở đây, chính nơi Đức Kitô, công lý được thực hiện đối với tội lỗi bằng giá máu hy sinh của Ngài, bằng cách “vâng lời cho đến chết trên Thập giá” (Pl 2:8).

“Ngài chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Ngài thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Ngài” (2 Cr 5:21). Công lý cũng được đem tới để liên quan cái chết, mà từ đầu lịch sử nhân loại đã bị nối kết với tội lỗi. SỰ chết đã được công lý thực hiện bằng giá của cái chết của Con Người không hề có tội và chiến thắng bằng cái chết: “Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng! Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi? Tử thần có độc là vì tội lỗi, mà tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật. Nhưng tạ ơn Thiên Chúa, vì Ngài đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (x. 1 Cr 15:54-57).

Chúa Con, Đấng đồng bản thể với Chúa Cha, đã hoàn lại công lý cho Thiên Chúa bằng chính Thập giá, đồng thời mặc khải LTX, đó là tình yêu trái ngược với những gì cấu thành nguồn gốc điều ác trong lịch sử nhân loại: chống lại tội lỗi và sự chết.

Thập giá là sự hạ mình sâu thẳm nhất của Thiên Chúa đối với loài người và những số phận bất hạnh của loài người – nhất là những lúc khó khăn và đau khổ. Thập giá như là “cách tiếp xúc” của tình yêu vĩnh hằng đối với những vết thương của loài người; đó là sự hoàn tất trọn vẹn của chương trình cứu độ nhân loại mà Đức Kitô đã bày tỏ tại Đền Thờ ở Nadarét (x. Lc 4:18-21) và đã được ngôn sứ Gioan Tẩy giả lặp lại (x. Lc 7:20-23).

Theo cách nói của tiên tri Isaia (x. Is 35:5; 61:1-3), chương trình này cốt ở việc mặc khải về LCTX đối với người nghèo, người đau khổ, tội nhân, người mù, người bị đàn áp và bị bóc lột. Trong Mầu nhiệm Vượt qua, các giới hạn của “sự dữ đa chiều” mà nhân loại “ăn chia” đã bị vượt qua: Thật vậy, Thập giá của Đức Kitô làm chúng ta hiểu căn nguyên sâu xa của sự dữ, đã bị gắn sâu trong tội lỗi và sự chết; vì thế Thập giá trở nên dấu hiệu tận thế (eschatological sign).

Chỉ trong sự hoàn tất cuối cùng và sự canh tân cuối cùng của thế giới mà tình yêu sẽ chiến thắng, trong những người Chúa chọn, hoa trái chín muồi của vương quốc sự sống và vinh quang bất tử. Việc thiết lập sự hoàn tất cuối cùng này có nơi Thập giá của Đức Kitô và trong cái chết của Ngài.

“Chúa Giêsu đã sống lại vào ngày thứ ba” (x. 1 Cr 15:4), điều đó cấu thành dấu hiệu cuối cùng của sứ vụ cứu độ, dấu hiệu hoàn tất toàn bộ mặc khải về LCTX trong thế-gian-bị-cái ác-chế-ngự. Đồng thời cấu thành dấu hiệu tiên báo “trời mới và đất mới” (Kh 21:1), lúc “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21:4).

Trong sự hoàn tất cuối cùng, LCTX sẽ được mặc khải là tình yêu, trong khi trên thế gian, trong lịch sử nhân loại, cùng với lịch sử của tội lỗi và sự chết, tình yêu phải được mặc khải là LCTX và cũng phải được hiên thực hóa là LCTX. Chương trình cứu độ của Đức Kitô, chương trình của LTX, trở thành chương trình của Dân Ngài, chương trình của Giáo hội.

Ngay tại trung tâm của chương trình đó luôn có Thập giá, vì chính nơi Thập giá mà sự mặc khải LCTX đạt tới đỉnh cao. Khi “những cái cũ bị tẩy sạch” (x. Kh 21:4), Thập giá vẫn còn được dẫn chứng những từ ngữ trong sách Khải huyền của Thánh Gioan: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3:20).

Theo cách đặc biệt, Thiên Chúa cũng mặc khải LTX khi Ngài mời gọi nhân loại “thương xót” Con Một Ngài là Đấng-bị-đóng-đinh. Đức-Kitô-bị-đóng-đinh chính là Ngôi-Lời-không-qua-đi: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mt 24:35), và Ngài là người “đứng trước cửa và gõ vào cửa lòng của mỗi người” (x. Kh 3:20), không hạn chế tự do nhưng tìm cách rút ra từ chính lòng yêu chuộng tự do, đó không chỉ là hành động đoàn kết với Con-Người-chịu-đau-khổ (Đức Kitô), mà còn là dạng LTX được mỗi người trong chúng ta thể hiện với Con của Chúa Cha hằng hữu.

Trong toàn bộ chương trình cứu độ của Đức Kitô, trong toàn bộ mặc khải về LTX qua Thập giá, phẩm giá con người có thể được tôn trọng hơn và được đề cao hơn, vì đạt được LTX. Đức Kitô đã xác định: “Các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:40).

Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giêsu nói đến một trong Bát Phúc (Tám mối phúc thật): “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7). Điều đó cấu thành một bản tổng hợp của toàn bộ Tân ước, toàn bộ “sự trao đổi tuyệt vời” (admirable commercium) bao gồm trong đó. Sự trao đổi này là luật của kế hoạch cứu độ, luật này vừa đơn giản, vừa mạnh mẽ, vừa dễ dàng.

Thể hiện ngay từ đầu những gì mà “trái tim con người” có thể thương xót, những từ ngữ này không từ Bài Giảng Trên Núi mặc khải viễn cảnh mầu nhiệm thẳm sâu của Thiên Chúa: Tính đồng nhất bí ẩn của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, trong đó tình yêu bao gồm công lý, đặt trong LTX, mặc khải sự hoàn hảo của công lý.

Mầu nhiệm Vượt qua là Đức Kitô ở đỉnh cao của sự mặc khải về mầu nhiệm bí ẩn của Thiên Chúa. Đó là những lời được nói đã hoàn toàn nên trọn: “Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14:9). Thật vậy, Đức Kitô là Đấng mà Chúa Cha “cũng không tha” (Rm 8:32) vì nhân loại, Đấng phải chịu khổ hình Thập giá đã không được nhân loại thương xót, Đấng đã mặc khải tình yêu viên mãn trong sự phục sinh của Ngài mà Chúa Cha đã dành cho Ngài, nơi Ngài, và cho nhân loại: “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống” (Mc 12:27).

Trong sự phục sinh, Đức Kitô đã mặc khải Thiên Chúa của LTX, vì Ngài đã chấp nhận Thập giá là đường tới phục sinh. Vì thế, khi chúng ta nhớ tới Thập giá, cuộc Khổ nạn và Sự chết của Đức Kitô, đức tin và đức cậy của chúng ta tập trung vào Đấng Phục Sinh: “Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!”. Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20:19-20). Rồi Ngài nói với họ: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20:22-23).

Ở đây Chúa Con có kinh nghiệm về LTX đã được thể hiện với Ngài, nghĩa là tình yêu của Chúa Cha mạnh hơn Tử thần. Đức Kitô cũng vậy, vào lúc cuối của sứ vụ cứu độ, Ngài đã mặc khải chính Ngài là Nguồn Thương Xót vô tận, về chính tình yêu ấy, trong viễn cảnh lịch sử cứu độ nơi Giáo hội, được xác nhận là lớn hơn mọi tội lỗi của nhân loại.

Đức Kitô Vượt Qua là hiện thân cuối cùng của LTX, dấu hiệu sống động trong lịch sử nhân loại cho đến tận thế. Trong tinh thần đó, phụng vụ mùa Phục sinh đặt trên môi miệng chúng ta những lời của Thánh vịnh: “Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng, qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài” [Tv 89 (88):2].

Lạy Chúa Giêsu, chúng con tín thác nơi Ngài!

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ TheDivineMercy.org)


(*) Septuagint, quen gọi là Bản Bảy Mươi. Bản Kinh thánh phổ thông (Vulgate) chủ yếu là công của thánh Giêrônimô, và được ĐGH Damasus I ủy nhiệm năm 382. Lúc đó, bản này là tiêu chuẩn trong Giáo hội, nhưng đến thế kỷ XVI có vài trăm bản được in, với nhiều thay đổi. Công đồng Trentô tuyên bố rằng Bản Kinh thánh phổ thôn là xác thực khi đọc công khai, tranh luận, giảng thuyết và bình luận, và truyền lệnh xem xét kỹ lưỡng. Nghĩa là bản phổ thông này là bản Kinh thánh chính thức của Giáo hội. Bản này cũng được Công đồng Vatican I và Vatican II sử dụng.

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Tin hay không tin ? Apr 10
Đây là sự kiện duy nhất mà bạn sẽ thấy và sống một lần trong đời mình mà thôi:
July
Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat





1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31






Năm 2012, tháng Bảy có 5 ngày thứ Sáu, 5 ngày thứ Bảy và 5 ngày Chúa Nhật. Điều này chỉ xảy ra một lần trong 823 năm. Điều này được gọi là “các túi tiền” (Money Bags).
Do đó, bạn hãy gửi chuyển trang cho bạn bè và tiền bạc sẽ đến trong vòng 4 ngày.
Dựa vào thuật Phong Thủy (Feng Shui) của Trung quốc, ai không gửi chuyển trang này, sẽ không nhận được tiền… (sic!).

Ha ha ha !!! Tiền là Tiên, là Phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của người già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng của con người !!!
VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Vui cười  | Leave a Comment
THƠ Tầun Bát Nhật Phục Sinh 2012 Apr 10

MỪNG CHÚA PHỤC SINH


Đây là ngày Chúa lập ra

Cùng nhau hợp xướng bài ca vui mừng

Trời cao, đất thấp một lòng

Loan tin Con Chúa oai hùng phục sinh

Cùng vào đời với lòng thành

Trao nhau chính Chúa-Phục-Sinh từng ngày

Tạ ơn Thiên Chúa Ngôi Hai

Cứu độ nhân loài thoát ách tội khiên


TRẦM THIÊN THU

Tuần Bát Nhật Phục Sinh – 2012



HỒNG ÂN THƯƠNG XÓT

Ơn riêng Thiên Chúa đã ban

Phải dùng phục vụ tha nhân, mọi người (*)

Ơn là “nén bạc” trao rồi

Phải làm sao để sinh lời nhiều hơn

Ai khôn khéo quản lý ơn

Thì được Thiên Chúa xót thương càng nhiều

Nhận nhiều ơn, trách nhiệm cao

Không có lẽ nào ích kỷ giữ riêng!

TRẦM THIÊN THU

(*) 1 Pr 4:10.

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Thi ca  | Leave a Comment
Kỳ thị tôn giáo Apr 09

LONDON (NCRegister.com, 6-4-2012) – Chính phủ Anh quốc đã cho phép các nhà tuyển dụng cấm nhân viên đeo Thánh Giá khi làm việc, điều đó được coi là “phân biệt đối xử” và “dốt thần học”.

Chính phủ đang đấu tranh về vụ kiện tại Tòa án Nhân quyền Âu châu ở Strasbourg, Pháp quốc, sau khi 2 phụ nữ Anh đòi quyền đeo Thánh Giá ở cổ.

Năm 2006, chị Nadia Eweida – nói tiếng Coptic (ngôn ngữ phổ biến trong Giáo hội Ai Cập), bị Hãng Hàng Không Anh (British Airways) tình nghi đã từ chối tháo Thánh Giá ra, điều mà hãng hàng không này coi là đã vi phạm nội quy của công ty. Chị Shirley Chaplin bị cấm làm việc tại bệnh viện sau khi chị không chịu che giấu Thánh Giá đeo ở cổ.

Đây là lần đầu tiên chính phủ buộc phải cho biết người ta có quyền đeo Thánh Giá để thể hiện đức tin hay không. Họ tranh luận là họ không yêu cầu niềm tin Kitô giáo nên các Kitô hữu không có quyền đeo Thánh Giá. Như vậy, họ sẽ yêu cầu các nhà tuyển dụng có thể đòi hỏi và khiển trách những người không tuân thủ.

Neil Addison, luật sư kiêm người hướng dẫn Trung tâm Pháp luật Thomas More ở Warrington (Anh quốc) nói rằng chính phủ cho rằng có thể cho phép cấm đeo Thánh Giá vì không bắt buộc, khác với khăn đội đầu của đạo Sikh (đạo thờ độc thần ở Ấn Độ) hoặc khăn trùm đầu của đạo Hồi.

Ông Addison nói: “Quan ngại của tôi về biện pháp này là chính phủ và tòa án được phép phân biệt đối xử giữa các tôn giáo dựa trên các điểm thần học của các tôn giáo. Hình như họ không biết rằng sự phân biệt này tự nó đã là phân biệt đối xử vì nó dành vị thế pháp luật ưu tiên đối với các tôn giáo có quy luật đặc biệt và chi tiết để chống lại các quy luật linh động hơn”.

Ông nói thêm: “Sự phân biệt đối xử đã hiểu lầm việc thực hành tôn giáo, thường là một sự hỗn hợp phức tạp các quy luật, niềm tin, tục lệ và nghi thức mà thường không thể quy định chính thức cách nào, tùy theo mỗi tôn giáo. Nhiều thế kỷ qua, việc đeo Thánh Giá đã được coi là là thói quen cơ bản của hầu hết các Kitô hữu, dù điều đó không được chính thức yêu cầu hoặc bắt buộc. Do đó, phân biệt giữa việc đeo Thánh Giá và đội khăn đầu của đạo Sikh hoặc đạo Hồi về cơ bản bắt buộc dùng hay không dùng, nhưng không tạo sự phân biệt một cách dốt thần học hoàn toàn, nhân tạo hoặc không thực tế. Đó là cách chống lại quy luật cơ bản của xã hội với tòa án phần đời vì nó liên quan việc tòa án phần đời phân biệt tôn giáo đối với những gì là không bắt buộc trong một tôn giáo”.

Trong bài phát biểu tại ĐH Liverpool Hope, giáo sư Công giáo David Alton nói rằng chúng ta nên “quan tâm tự do tôn giáo và những điều đã có từ năm 1829, với sự giải phóng của người Công giáo và người Do Thái, vẫn an toàn trong một quốc gia nói rằng một phụ nữ trẻ làm việc cho British Airways không thể đeo Thánh Giá ở cổ nếu điều đó gây đối kháng. Đó là mất mát lớn đối với đất nước này nếu quan niệm ngớ ngẩn đó được áp dụng”.

Vụ này gây chú ý ở khắp Anh quốc. Giáo sĩ Hilarion, thuộc giáo phận Volokolamsk của Chính thống giáo Nga, trưởng Quan hệ Ngoại giao ngoài Giáo hội, nói với đài truyền hình Nga rằng ông thấy tiếc với cách phát triển như vậy. Giáo sĩ Hilarion nói: “Họ thiếu kinh nghiệm về bách đạo, họ không biết đó là gì và khi nào Thánh Giá được tháo ra”.

Giáo sĩ Hilarion nói thêm: “Đó là sai lầm nghiêm trọng đối với tự do Tây phương ngày nay, họ thực sự áp đặt những tiêu chuẩn của chế độ độc tài lên những con người tự do. Đó là dấu hiệu của sự điên khùng nào đó và phá hủy luân lý khi các nguyên tắc như vậy không chỉ được giới thiệu mà còn được bàn luận. Có gì sai trái khi đeo Thánh Giá ở cổ chứ? Thánh Giá làm hại ai và làm hại cách nào? Tại sao người ta có thể đeo xâu chuỗi, đeo bùa hộ mạnh, đeo tượng ảnh, but a còn người tín hữu lại không được đeo Thánh Giá? Chúng tôi không bao giờ đồng ý như thế và sẽ phản đối tới cùng”.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Xã hội  | Leave a Comment
Lòng Chúa Thương Xót – Lời hứa và Hiện thực Apr 07

Thứ Bảy Tuần Thánh bao trùm khoảng lặng trầm hùng. Lặng lẽ để suy niệm về sự hy sinh cao cả của Đấng Cứu Thế, để sám hối tội lỗi mình, và hy vọng giây phút bừng sáng Ánh Phục Sinh.

Giờ Thứ Chín của Thứ Sáu Tuần Thánh, Giờ Cứu Độ, Giờ Thương Xót. Chính giờ đó đã có 2 Hồng ân của LCTX:

Hồng ân thứ nhất của LCTX đã được trao ban cho mỗi chúng ta ngay khi Chúa Giêsu cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Chắc chắn ngôn ngữ phàm nhân không đủ từ ngữ và không có đủ cách để mô tả Tình Yêu Chúa, tức là LCTX, một cách trọn vẹn nhất.

Thấy người-trộm-dữ thách thức Chúa Giêsu, người-trộm-lành mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” (Lc 23:40-41). Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23:42). Người-trộm-lành đó là Dimas, anh đã được Chúa Giêsu ban LTX khi Ngài hứa: “Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43). Đó là Hồng ân thứ nhì của LCTX.

Một hồng ân được trao ban cho tập thể và một hồng ân được trao ban cho cá nhân. Chúa Giêsu đã thực hiện đúng như Ngài đã hứa. Ngài quá nhân từ và đại lượng, ngay cả lúc sắp chết. Ngài nhân từ và đại lượng với chính kẻ thù của mình, những người đã hành hạ, sỉ vả và sát hại Ngài. Những kẻ tử thù “không đội trời chung” đó là chính chúng ta!

Thiết tưởng chúng ta phải coi chừng động thái “cứng lòng” của người-trộm-dữ. Anh ta có tội và sắp chết mà vẫn cố chấp và thách thức Thiên Chúa: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” (Lc 23:41). Đó là tình trạng không tin tưởng, cố chấp, không muốn đón nhận LCTX.

Chính Chúa Giêsu đã mặc khải cho Thánh nữ Maria Faustina rõ ràng: “Vào lúc 3 giờ chiều, hãy khẩn cầu LTX của Ta cho các tội nhân cách riêng, và nếu có thể trong giây lát, con hãy trầm mình vào cuộc khổ nạn của Ta, đặc biệt lúc Ta bị bỏ rơi trong cơn hấp hối. Đây là giờ điểm LTX vĩ đại nhất đối với thế giới. Trong giờ này, Ta sẽ chẳng từ chối bất cứ điều gì với các linh hồn kêu van Ta, nhân danh cuộc tử nạn của Ta”.

Bạn có đủ tin không? Đức tin luôn rất cần. Khi chữa lành bất cứ bệnh nhân nào, Chúa Giêsu cũng nói: “Đức tin của bạn đã cứu bạn” (x. Mt 9:22; Mc 5:34; Mc 10:52; Lc 7:50; Lc 8:48; Lc 17:18; Lc 18:42), và Ngài đã xác định: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu: ‘Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc’, nó cũng sẽ vâng lời” (Lc 17:6). Thánh nữ Bernadette (Lộ Đức) nói:“Người tin thì không cần giải thích, người không tin thì giải thích cũng vô ích”. Đáng quan ngại thật!

LCTX đã có từ khai thiên lập địa. Càng rõ nét hơn từ khi Chúa Giêsu mặc khải cho Thánh Faustina. Mọi người mọi thời đều cần LCTX, thời đại chúng ta là thời cách chung, càng cần LCTX hơn, vì ngày nay người ta đang mất dần ý thức tội lỗi và muốn loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình. Vì Chúa Giêsu đã kêu: “Tôi khát!”. Đó là Ngài “khát” các linh hồn, Ngài không muốn ai không được lãnh nhận Ơn Cứu Độ, vì một người không nhận lãnh được Ơn Cứu Độ thì thật uổng công Ngài. Thế mà hiện nay vẫn có những người không muốn tin, thậm chí là ngăn cản việc sùng kính LCTX. “Khó hiểu” thật!

Người ta nói: “Nhân vô thập toàn”, nghĩa là ai cũng phạm tội. Như vậy, không ai lại không cần đến LCTX.

Chúa Giêsu hào phóng trao ban LTX cho chúng ta, nhưng Ngài cũng trao trách nhiệm cho chúng ta: “Thưa Mẹ, đây là con của Mẹ” (Ga 19:26), và “Đây là Mẹ của anh” (Ga 19:27). Đó bổn phận và trách nhiệm “yêu thương nhau” (x. Ga 13:34; Ga 15:12; Ga 15:17) mà Ngài đã truyền lệnh. Mệnh lệnh nghĩa là PHẢI LÀM. Ngài không “ép buộc”, nhưng ai tuân lệnh thì được chúc phúc và được cứu độ. Vả lại, chính Chúa Giêsu là Cây Nho, còn tất cả chúng ta là cành nho (x. Ga 15:5). Là những chi thể trong một Nhiệm thể thì không yêu thương nhau sao được chứ?

Tuy nhiên, khi loan truyền và thực thi LCTX, chúng ta cần lưu ý kẻo lại “loan truyền chính mình”. Hãy noi gương Thánh Gioan Tẩy giả: “Ngài phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3:30). Đồng thời, rất có thể chúng ta sẽ gặp nhiều trở lực, vì Chúa Giêsu cũng đã báo trước: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước” (Ga 15:18).

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin lỗi Ngài và tín thác vào Ngài. Xin thương nâng đỡ và hướng dẫn chúng con đi đúng đường lối Ngài muốn. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Thứ Bảy Tuần Thánh – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
THƠ : Tâm sự Dimas Apr 06

Thưa Ông Giêsu!

Tôi chưa nghe danh Ông bao giờ cả

Chỉ thấy Ông kỳ lạ

Nhưng lại bị án tử như tôi

Bỗng dưng u ám đất trời

Ngay lúc mặt trời nắng gắt

Thấy bảng trên đầu Ông cho biết

Ông là Vua

Tôi cũng chưa bao giờ

Nghe nói đến Nước mà Ông cai trị

Nghe đâu Ông là Con Thiên Chúa

Không dưng tôi thấy tin

Tôi chỉ có một điều cầu xin:

“Khi nào Ông về Nước

Xin Ông nhớ đến tôi một chút

Vì tôi sắp chết rồi”

Chiều xưa Ông hứa lời:

“Hôm nay anh sẽ thỏa nguyện ước

Ở với Tôi trên thiên quốc” (*)

Dimas tôi hạnh phúc thay!

Ông Giêsu này!

Tôi biết ơn Ông nhiều lắm

Một đời cướp bóc, gian lận

Vậy mà Ông không ghét tôi!

TRẦM THIÊN THU

Thứ Sáu Tuần Thánh – 2012

(*) Lc 23:43.

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Thi ca  | Leave a Comment
Chuyện tình phụ Apr 06

Đại văn hào Victor Hugo nói: “Chết cho tình yêu là sống trong tình yêu”. Ông chỉ là một phàm nhân đầy tham-sân-si mà nhận thức được như vậy thì quả là tuyệt vời, và cũng… “ngược đời” quá. Ai cũng muốn yêu và được yêu, không ai lại muốn bị phụ tình. Người phụ tình bị chê trách đã đành, nhưng đôi khi họ có thể được… khen là “cao cơ”. Còn người bị tình phụ thì thường bị chê là yếu kém, là dở, là nhu nhược,… Không nhiều người khả dĩ hiểu thâm thúy như ông Victor Hugo.

TÌNH CUỒNG SI

Trong ca khúc “Vì Đó Là Em”, nhạc sĩ Diệu Hương xác định: “Không cần biết em là ai, không cần biết em từ đâu, không cần biết em ngày sau, ta yêu em bằng mấy ngàn biển rộng, ta yêu em qua đông tàn ngày tận, yêu em như yêu vùng trời mênh mông. Không cần biết đêm dài sâu, không cần biết bao gầy hao, ta ngồi đếm tên thời gian, nghe thương yêu dâng cao như ngọn đồi, như xa xôi nay quay về gần gũi, yêu em khi chỉ biết đó là em. Để rồi từ đó, ta yêu em không ngại ngần, để rồi từ đó trong bước chân nghe gần hơn. Một ngày lại đến trái tim ta dại buồn, rồi từng chiều lên mang nỗi buồn vô biên. Cho dù biết em rồi đi, cho dù biết không chờ chi, nhưng lòng vẫn nghe cuồng si, nghe trong ta quên đi lòng sầu hận, ta yêu em chưa bao giờ một lần, yêu em vì chỉ biết đó là em”.

Ca từ chân thật, giản dị mà sâu sắc. Giai điệu cũng nhẹ nhàng hòa quyện với từng ca từ. Một ca khúc thật đẹp, dường như không thể bỏ từ nào hoặc thêm từ nào. Điệp ngữ “đó là em” và “không cần biết” cứ lặp đi lặp lại cho thấy đó là khối u tình nhưng cường độ yêu cực mạnh. Tình yêu chân thật là thế, CHO nhiều hơn NHẬN. Người yêu thật lòng sẽ không so đo gì, “không cần biết” gì khác, chỉ cần biết “đó là em” – với phụ nữ thì “đó là anh”.

Khi yêu, không ai biết đường tình của mình có “mát mái, xuôi chèo” để “cặp bến bờ hạnh phúc” hay không. Nếu “lỡ” bị phụ tình mà vẫn yêu, vẫn nhớ mong, vẫn tương tư, thì người ta cho người đó là ảo vọng, là ngu xuẩn, là dại dột, “tâm thần”, là lụy tình,… Nếu vậy, Chúa Giêsu hẳn là còn là người “siêu tâm thần”, “siêu” lụy tình, cực kỳ siêu đẳng về mọi thứ. Tại sao? Vì Ngài biết trước là chúng ta sẽ phụ tình Ngài: “Gà chưa kịp gáy hai lần, thì con đã chối Thầy đến ba lần” (Mc 14:72), hoặc: “Thầy chấm bánh đưa cho ai, thì chính là kẻ ấy” (Ga 13:26). Ngài biết rõ cả trong tư tưởng của chúng ta, biết trước và biết rõ, thế mà trước khi tắt thở, Ngài vẫn nài xin Chúa Cha và biện hộ cho chúng ta, những-kẻ-phụ-tình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Chúng ta quá tệ!

Chúa Giêsu là Tình Yêu (x. 1 Ga 4:8 & 16), là Tình Yêu của mọi tình yêu, là Sư tổ của tình yêu. Ngài yêu tội-nhân-chúng-ta mà “không cần biết” gì khác, và Ngài chỉ nói với chúng ta một điều duy nhất: “Vì đó là con”. Ngài yêu chúng ta “bằng mấy ngàn biển rộng”, Ngài yêu chúng ta “qua đông tàn ngày tận”, Ngài “không cần biết bao gầy hao”, Ngài không ngại ngần, dù biết chúng ta đến rồi đi, hứa rồi quên, Ngài vẫn dành cho chúng ta khối cuồng si, chỉ vì “đó là chúng ta”. Kỳ diệu quá!

XIN LỖI TÌNH YÊU

Trong ca khúc “Xin Lỗi Tình Yêu”, nhạc sĩ Minh Nhiên trần tình: “Anh nói sẽ đưa em đi suốt cuộc đời, mà sao không đưa được đoạn đường em đi?… Anh nhớ lần đầu tiên trông thấy nụ cười, mà em trao cho người lạc đường yêu đương. Anh biết từ đây anh sẽ dối em, dù em tin thật lòng với người anh yêu! Tình yêu hỡi ngàn lần xin tha thứ. Xin lỗi em, ngàn lời xin lỗi em!…”.

Khi yêu, người ta hứa đủ điều, liều mình mà “bán trời không văn tự”, thậm chí còn dám “bắt chước” vua Hêrôđê cho gái cả nửa đất nước (x. Mc 6:23). Chàng thanh niên trong ca khúc “Xin Lỗi Tình Yêu” cũng hứa… cuội, để cô gái tin anh ta “thật lòng với người anh yêu”. Anh ta thú nhận mình là “người lạc đường yêu đương” và “sẽ dối em”, để rồi kết luận: “Tình yêu hỡi, ngàn lần xin tha thứ… Ngàn lời xin lỗi em!”.

Chàng trai đó là chính chúng ta, những-người-dám-phụ-tình-Chúa. Thế nhưng, liệu chúng ta đã có lời nào xin lỗi Chúa chưa? Hay là coi việc tha thứ là bổn-phận-của-Chúa, chúng ta không cần xin lỗi? Có lẽ không hề oan đối với chúng ta đâu!

Thứ Sáu Tuần Thánh, thời tiết oi nồng như nhắc nhở chúng ta về “lời xin lỗi Chúa”. Tuần Thánh cũng thường trùng vào những ngày có trăng đẹp, ánh trăng lung linh kỳ ảo và dịu mát như nhắc nhở chúng ta về Mầu nhiệm Tình yêu của Thiên Chúa, về Lòng Thương Xót vô biên của Ngài.

Tình-yêu-cuồng-si của Đức Kitô biến Ngài hóa “yếu đuối” và “điên rồ” vì những-tội-nhân-chúng-ta. Tuy nhiên, Thánh Phaolô so sánh: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1:25). Hiểu được như vậy nên Thánh Phaolô mong muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô!” (Gl 6:14a). Thập giá là nhục hình, là đau khổ, là thua thiệt, thế mà lại có người hãnh diện, “lạ” thật!

“Lạ” cũng phải. “Khó hiểu” cũng đúng. Vì “nhờ Thập giá của Đức Kitô mà thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá” (x. Gl 6:14b). Nhờ Thập giá mà chúng ta được cứu độ, được hưởng Lòng Chúa Thương Xót: “Kính lạy Máu và Nước đã tuôn trào từ Thánh Tâm Chúa Giêsu, như thác nguồn thương xót chúng con, con tín thác vào Chúa. Ôi suối nguồn sự sống LTX vô biên của Chúa, xin bao phủ thế giới và trút hết cho chúng con”.

Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến nỗi loài người không thể nào hiểu nổi, vì “Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2:4). Giờ Thứ Chín, Giờ Cứu Độ, Giờ Thương Xót: “Lạy Chúa, vì cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót chúng con và toàn thế giới”.

Lạy Thiên Chúa, chúng con xin lỗi Ba Ngôi, đặc biệt xin lỗi Đức Giêsu Kitô, chúng con cũng xin lỗi Đức Mẹ Maria và Đức Thánh Giuse. Chúng con thành tâm ăn năn sám hối về mọi tội lỗi của chúng con, xin cứu độ chúng con và toàn thế giới. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Giờ Thứ Chín – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
THƠ : Mẫu Tử ly biệt Apr 06

Dạt dào Mẫu Tử tình thâm

Mẹ vẫn lặng thầm chăm sóc Con Yêu

Thương nhiều nên Mẹ càng đau

Thấy Con bị đánh quá nhiều, thương sao!

Con đi từng bước lao đao

Thập hình phải tự vác trèo Can-vê

Té lên té xuống ê chề

Không ăn, không uống, lê thê đường dài

Con đau đớn, Mẹ đắng cay

Nước mắt vắn dài, lòng Mẹ nát tan

Thấy Con quằn quại xác thân

Vì đinh đâm thấu tay chân Con mình

Mẹ như chết lặng một mình

Càng đau khi thấy môn sinh chạy dài

Biệt ly Mẫu Tử u hoài

Mẹ hiền rướm máu vết dài tim đau

Xác thân Con Mẹ nát nhàu

Lại còn nhục nhã chết treo Thập hình

Tội-nhân-con đã cố tình

Giết Anh Cả để Mẹ mình khổ đau

Xin tha thứ, lạy Mẹ Yêu

Xin tha thứ, lạy Anh Yêu vô vàn

Dù con tội lỗi, bất nhân

Nhưng tin Tình Chúa muôn phần xót thương

TRẦM THIÊN THU

Giờ Cứu Độ – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Thi ca  | Leave a Comment
Liệu pháp Lòng Chúa Thương Xót Apr 06

Thầy thuốc

Nếu thầy thuốc biết rằng nếu một ngày nào đó có một liệu pháp mới, ông sẽ có thể chữa cho nhiều bệnh nhân ung thư, và nếu ông biết hiệu quả sẽ xảy ra sau vài giờ và nếu ông biết sách có hướng dẫn cách điều trị chứng ung thư đó, thầy thuốc đó có mau chóng áp dụng ngay hay không? Chắc hẳn thầy thuốc đó phải cấp tốc dùng liệu pháp đó để cứu sống các bệnh nhân ung thư càng nhiều càng tốt trong ngày tuyệt vời đó.

Thầy thuốc đó là linh mục. Sách hướng dẫn đó là cuốn Nhật Ký của Thánh Faustina. Liệu pháp đó là Lòng Chúa Thương Xót (LCTX). Ngày đó là Đại lễ LCTX.

Diện mạo tốt lành của Thiên Chúa

Trong buổi lễ phong thánh cho nữ tu Faustina, Chân phước GH Gioan Phaolô II nói: “Nhờ hành động hôm nay, tôi gởi sứ điệp của Lòng Chúa Thương Xót tới thiên niên kỷ mới. Tôi trao sứ điệp này vì tôi muốn mọi người biết diện mạo của Thiên Chúa rõ ràng hơn, diện mạo của LCTX, và qua đó, mọi người biết rõ diện mạo của anh chị em mình. Ánh sáng của sứ điệp LCTX mà Thiên Chúa muốn đổi mới trong thế giới sẽ là dấu hiệu hy vọng cho thiên niên kỷ thứ ba này, như các tông đồ xưa”. Ngài nói thêm rằng, trong tương lai, Chúa Nhật II Phục sinh sẽ được cả thế giới gọi là Chúa Nhật LCTX, giáo sĩ và giáo dân sẽ hữu ích nhờ Chúa Nhật LCTX, trong thời gian của đặc sủng này.

Trong thế giới ngày nay, rõ ràng người ta không còn lắng nghe Thiên Chúa và thế giới cần phương thuốc mới này để chữa lành. Rõ ràng đây là lý do Chúa Giêsu, Thầy Thuốc chữa mọi chứng bệnh tâm linh, đã tìm thấy liệu pháp cần thiết để cho chúng ta cách mới và Ngài đã trao cho chúng ta sứ điệp phi thường được mặc khải cho Thánh Faustina, với lời hứa khác thường gắn liền với liệu pháp này để điều trị con người hiện đại và đem nhân loại về với đức tin lành mạnh.

Linh ảnh LCTX là máng chuyển ân sủng

Ngài đã trao cho chúng ta một hình ảnh mới về LCTX, từ đó Ngài hứa ban những ân sủng lớn lao sẽ tuôn trào ở những nơi trưng bày và tôn sùng linh ảnh LCTX. Linh ảnh LCTX là Nguồn Chữa Lành mà chúng ta có thể tiếp tục chạy đến để được bồi dưỡng sức khỏe, tăng cường sức mạnh và đức tin, nhờ các ân sủng tuôn chảy từ linh ảnh LCTX. Chúng ta có thể làm đầy hồn xác chúng ta bằng tinh thần mới của con người và đức tin, những thứ đang bị xói mòn trong thế giới ngày nay.

Chuỗi LCTX

Chúa Giêsu đã trao ban cho chúng ta công thức mạnh mẽ mới để đạt được điều này, qua lời cầu nguyện có thế lực, đó là Chuỗi LCTX, nếu chúng ta cầu nguyện chân thành và sám hối. Chuỗi LCTX sẽ cho chúng ta cơ hội dâng lên Chúa Cha chính Mình và Máu, Linh hồn và Thiên tính của Con Rất Yêu Dấu là Đức Giêsu Kitô, Ngài đã hy sinh, chuộc tội chúng ta và toàn thế giới. Một lời cầu nguyện mạnh mẽ biết bao, sức mạnh đó có thể chỉ sau sức mạnh của Thánh lễ. Ngài cũng hứa rằng nếu Chuỗi LCTX được đọc trước mặt tội nhân đang hấp hối, dù họ có hiệp thông hay không, Chuỗi LCTX cũng sẽ cứu tội nhân đó thoát khỏi Hỏa ngục. Chuỗi LCTX còn được gọi là “Lời cầu nguyện Hoán cải” (Conversion Prayer). Nếu Chuỗi LCTX được đọc thành kính vào lúc 3 giờ chiều, với lòng ăn năn sám hối và với đức tin, nhân danh một linh hồn nào đó, sẽ có hiệu quả nhờ lời hứa của Chúa Giêsu và Ngài sẽ bước vào cuộc đời của linh hồn đó. Loan truyền Chuỗi LCTX là bảo đảm phần rỗi của linh hồn mình, nếu bạn giúp loan truyền bằng hành động, bằng lời nói và bằng lời cầu nguyện.

Đại lễ LCTX

Có một lời hứa vĩ đại nhất là “ngày chữa lành mọi người”, dù linh hồn đó tội lỗi tới mức nào, ngày đó là Chúa Nhật sau Đại lễ Phục sinh, Đại lễ LCTX, đối với những người theo những bước đơn giản mà Chúa Giêsu mong muốn là tuân phục và tín thác vào Ngài. Lời hứa này được thể hiện bàng cách chữa lành linh hồn, làm cho lời hứa đó trở nên trong sạch như ngày mới lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy.

Vào ngày Đại lễ LCTX, chúng ta cũng nhận được Thần khí duy nhất của LCTX. Chính Thần khí của LCTX sẽ chữa lành mọi vết thương của nhân loại, chữa lành mọi bệnh tật khiến chúng ta xa lìa Thiên Chúa, chữa lành bệnh ngờ vực khiến chúng ta xa cách nhau, phục hồi tình yêu Chúa Cha dành cho chúng ta, và tình yêu chúng ta dành cho Chúa Cha. Đại lễ LCTX là dịp tuyệt vời biết bao!

Tòa thánh công nhận Đại lễ LCTX

Hãy nhớ rằng Đại lễ LCTX không là lòng sùng kính riêng tư. Lễ này đã được Chân phước GH Gioan Phaolô II thiết lập ở mức toàn cầu. Giáo hội đã phê chuẩn ngày 5-5-2000 bằng một sắc lệnh (Decree), được Bộ Phụng tự và Bí tích công bố. Đại lễ LCTX được cử hành chính thức vào Chúa Nhật sau Đại lễ Phục sinh mãi mãi. Vì Đại lễ LCTX đã được Tòa thánh phê chuẩn, nên lễ này mở rộng tới các giám mục để thiết lập tại giáo phận địa phương, hoặc Hội đồng Giám mục thiết lập lễ này trên toàn quốc.

Rõ ràng Chân phước Gioan Phaolô II tha thiết muốn chính thức thiết lập Đại lễ LCTX ở khắp thế giới, nhưng chính các giám mục có trách nhiệm thiết lập lễ này trong lịch phụng vụ địa phương ở quốc gia mình. Không lấn cấn gì với lịch phụng vụ địa phương vì Đại lễ LCTX được cử hành trong Tuần bát nhật Phục sinh. Chính Chúa Giêsu đã chọn ngày này để mừng kính LTX của Ngài, do đó không có vấn đề gì về việc cử hành Đại lễ LCTX. Các bài đọc Kinh thánh trong các Chúa Nhật khác cũng vẫn tập trung vào LCTX. Phúc âm Chúa Nhật này luôn nói về việc Chúa Giêsu hiện ra với các Tông đồ và ban cho các ông quyền tha tội, và Thánh vịnh trong đáp ca cũng luôn là Tv 118, xưng tụng LCTX đến muôn đời: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”. Trước đây Giáo hội gọi Chúa Nhật II Phục sinh là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, vậy đâu có gì trái ngược khi Giáo hội gọi Chúa Nhật này là Đại lễ LCTX. Vẫn là một, nhưng chỉ là hai cách gọi mà thôi.

Nếu bạn đọc Thánh Augustinô thì có thể thấy rằng, trong Giáo hội thời xưa, Chúa Nhật sau Đại lễ Phục sinh được coi là “đại lễ” kính nhớ LTX của Chúa. Điều Thánh Augustinô nói được biểu lộ trong mọi sự kiện của Mầu nhiệm Vượt qua (Paschal Mystery). Thánh Augustinô gọi Chúa Nhật II Phục sinh là “ngày tóm lược LCTX” (a day that is a compendium of all God’s mercies). Chúa Nhật LCTX không là ngày lễ mới có “xung khắc” với Đại lễ Phục sinh mà là cách canh tân của lễ cũ trong Giáo hội, lễ mừng Đức Kitô sống lại từ cõi chết và ban sự sống vĩnh hằng cho nhân loại, đó là hành động cuối cùng của LCTX.

Chuẩn bị Đại lễ LCTX

Dưới đây là những bước đơn giản theo yêu cầu của Chúa Giêsu khi chuẩn bị Đại lễ LCTX, để Chúa Cha sẽ ban ơn chữa lành linh hồn cho chúng ta. Vào ngày Đại lễ LCTX, hãy đến nhà thờ theo ý muốn của Chúa Giêsu và hãy thực hiện các điều Ngài đã cho chúng ta biết về ngày lễ này.

Các mặc khải trong cuốn Nhật Ký của Thánh Faustina có những điều khá rõ ràng:

(1) Đại lễ LCTX nên được cử hành vào Chúa Nhật thứ II Phục sinh.

(2) Đại lễ LCTX nên được cử hành bằng Tuần Cửu Nhật Chuỗi LCTX, bắt đầu từ Thứ Sáu Tuần Thánh.

(3) Đời sống chúng ta phải thể hiện động thái thương xót, nhất là mỗi ngày trong Tuần Cửu Nhật, là phần chuẩn bị Đại lễ LCTX. Chúng ta phải thương xót người khác bằng lời nói, việc làm và lời cầu.

– Ngôn ngữ thương xót: Tha thứ cho người khác để noi gương LCTX.

– Hành động thương xót: Thực hiện việc làm để tỏ LCTX.

– Lời cầu thương xót: Cầu nguyện cho các tội nhân cần đến LCTX.

(4) Linh ảnh LCTX nên được tôn kính vào ngày Đại lễ LCTX.

(5) Chúng ta nên bày tỏ công khai niềm tín thác vào Chúa Giêsu, vào LCTX. Điều này có thể thực hiện bằng cách hôn kính hoặc chạm vào linh ảnh LCTX, và thành kính tâm sự: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài”. Điều này cũng có thể thực hiện khi chúng ta hôn kính Thánh Giá trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hoặc bất kỳ lúc nào chúng ta cảm thấy “nhớ” Ngài.

(6) Xưng tội và rước lễ: Nên xưng tội trước để có thể rước lễ vào ngày Đại lễ LCTX. Linh hồn phải ở trong ân sủng để xứng đáng đón nhận LCTX.

Thánh Faustina đã xưng tội để chuẩn bị Đại lễ LCTX vào thứ Bảy trước đó. Sau khi rước lễ, được hòa tan trong Chúa Giêsu Thánh Thể, nên hoàn toàn tín thác vào LCTX.

(7) Bài giảng của linh mục phải nói về LCTX trong ngày Đại lễ LCTX, đó là LTX mà Chúa Cha trao ban cho chúng ta qua Chúa Con, Đức Giêsu Kitô.

(8) Vào ngày Đại lễ LCTX, chúng ta phải chiêm ngưỡng Mầu nhiệm Cứu độ vì đó là mặc khải vĩ đại nhất về LCTX đối với chúng ta.

Đại lễ LCTX cũng là dịp đặc biệt đem các linh hồn lầm lạc về kết hiệp với chúng ta, về với LCTX, bằng lời khẩn cầu, và cho những linh hồn đó đến với Chúa Giêsu vì Ngài hứa chữa lành họ, tăng sức mạnh cho họ. Chúa Giêsu nói: “Vào ngày Đại lễ LCTX, Ta khao khát các linh hồn, con sẽ đem các linh hồn yếu đuối đến Nguồn Thương Xót của Ta, nơi mà Ta sẽ chữa lành họ và tăng sức mạnh cho họ”.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ DivineMercy.org)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
THƠ : Thánh Thể Apr 06

Thánh Thể là Nguồn Sống

Cho mọi người mọi thời

Ăn Thịt, uống Máu Chúa

Sẽ được sống đời đời

Thánh Thể thêm can đảm

Cho những người nhát gan

Thánh Thể tăng sức mạnh

Cho người chịu gian nan

Thánh Thể là vũ khí

Để chống lại ba thù

Thánh Thể thêm dũng khí

Khi cần sức vượt qua

Thánh Thể là hạnh phúc

Cho người gặp đau buồn

Thánh Thể là linh dược

Cho người yếu phần hồn

Thánh Thể là nước mát

Giải khát lòng khô khan

Thánh Thể là lương thực

No lòng dọc đường trần

Chúa lập Phép Thánh Thể

Để ở với con luôn

Xin cảm tạ Đức Chúa

Không bỏ con cô đơn

Xin cho con yêu Chúa

Hết trí và hồn này

Con xin ở bên Chúa

Trong Vườn Dầu đêm nay

TRẦM THIÊN THU

Dạ Tiệc Vượt Qua – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Thi ca  | Leave a Comment
Tuần cửu nhật kính Lòng Chúa Thương Xót Apr 05

Trong Tuần Thánh thực sự chỉ có một cách chọn lựa duy nhất để làm tuần cửu nhật kính Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) là bắt đầu từ chính ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Tuần cửu nhật kính LCTX mới đầu là lòng sùng kính riêng mà Chúa Giêsu đã mặc khải cho Thánh nữ Maria Faustina Kowalska. Ngài yêu cầu Thánh Faustina làm tuần cửu nhật từ Thứ Sáu Tuần Thánh và kết thúc vào Chúa Nhật kính LCTX, thuộc tuần bát nhật Phục sinh (Chúa Nhật sau Đại lễ Phục sinh).

Chúa Nhật sau Đại lễ Phục sinh là Chúa Nhật II Phục sinh, trước đây gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, nay gọi là Chúa Nhật LCTX. Không có gì lạ hoặc trái ngược. Chúa Chiên Lành là Chúa Nhân Lành của đoàn chiên, là Chủ chiên đầy lòng thương xót.

Các lời cầu nguyện được chính Chúa Giêsu đọc cho Thánh Faustina viết (the words of prayers were dictated to St Faustina), và Thánh Faustina ghi lại trong Nhật Ký những hướng dẫn của Chúa về lời nguyện hằng ngày (St, Faustina recorded in her diary Our Lord’s instructions for each day’s prayer).

Chân phước GH Gioan Phaolô II rất yêu mến Thánh Faustina, người nữ tu mà ngài đã tôn phong hiển thánh năm 2000. Ngài cũng rất sùng kính LCTX. Hơn một thập niên qua, việc cầu nguyện bằng cách làm tuần cửu nhật kính LCTX đã lan rộng toàn cầu.

Năm 2011, chính ngày Chúa Nhật Đại lễ LCTX, ĐGH Bênêđictô XVI đã chủ sự lễ phong chân phước cho vị tiền nhiệm là ĐGH Gioan Phaolô II. Điều đó góp phần làm cho tuần cửu nhật kính LCTX càng thêm quan trọng.

Những gì đã và đang diễn ra cho chúng ta thấy thực sự thời đại chúng ta là thời kỳ cánh chung, Chúa Giêsu sắp đến thế gian lần thứ hai, không mau chạy đến với LCTX thì không còn kịp đâu. Đó là ngày công lý chung thẩm. Đừng cứng lòng nữa!

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Catholicism.about.com)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
THƠ Thứ Sáu Tuần Thánh Apr 05

XIN VÂNG

(Mt 26:42; Mc 14:36; Lc 22:42)

Lạy Cha là Chúa đất trời

Nếu Con đây cứ phải uống

Không thể tránh khỏi Chén đắng

Thì Con xin vâng Ý Cha!

TRẦM THIÊN THU


HỘI CHỨNG GIUĐA

Giuđa bán Chúa một lần

Còn con bán Chúa cả đời mà quên

Lại còn ảo tưởng ngày đêm

Ngỡ mình là một thánh nhân hơn người

Bao nhiêu tội lỗi tày trời

Vậy mà còn dám chê cười Giuđa

Con ăn chia với quỷ ma

Chỉ tìm tư lợi, vô tư bán Thầy!

Thấy dân cầm lá trên tay

Vạn tuế đón Thầy, con ảo tưởng thêm

Ngỡ Thầy được vậy là ngon

Ắt là trò cũng hưởng phần thơm lây

Thế nên con bất cần đời

Tháng ngày con chẳng coi ai ra gì

Ngông nghênh, tự đắc, kiêu sa

Ai dám giỡn đùa thì sẽ biết tay

Ai dè Chúa chịu đắng cay

Khiến con thất vọng trắng tay ê chề

Bán Thầy, con chẳng ngại gì

Bán đi bán lại giá ba mươi đồng

Rốt cuộc tay trắng hoàn không

Con càng thất vọng, chán chường, sầu lo

Nhiễm vào hội chứng Giuđa

Càng ngày càng hóa trầm kha quá rồi!

Thầy ơi! Con biết tội rồi

Ăn năn xin Chúa một lời thứ tha

Từ nay con dốc lòng chừa

Xin vâng Thánh Ý mặc dù khổ đau!

TRẦM THIÊN THU


ĐỒNG LÕA

Giuđa sử dụng nụ hôn

Làm dấu “chỉ điểm” bán Chúa

Con cũng đã từng như thế

Bán Chúa một cách tinh vi!

Dân chúng đồng thanh hô to:

“Đóng đinh hắn vào thập giá!”

Có con trong đám đông đó

Ghen tị, căm phẫn, hét to!

Phêrô chối bỏ Giêsu

Muốn yên thân mà hèn nhát

Con cũng bao lần khiếp nhược

Không dám tuyên xưng đức tin!

Philatô rửa tay liền

Muốn chứng tỏ mình công chính

Con cũng tưởng mình lành thánh

Trong khi ném đá giấu tay!

Thứ Sáu, giờ thứ chín này

Lặng quỳ suy tôn Thánh Giá

Con thấy mình khốn nạn quá

Vì con mà Chúa hy sinh!

Nhìn Chúa chết treo Thập hình

Con nhận ra mình tệ quá

Lòng Chúa Thương Xót kỳ lạ

Nhờ đó con được thứ tha

Giọt Máu cuối cùng chảy ra

Chúa trút hơi lìa trần thế

Dẫu con đáng mang án tử

Thế mà Ngài lại bỏ qua

Xin giúp con quyết tâm chừa

Dù tội vô tình, cố ý

Can đảm quyết không đồng lõa

Nhưng chống lại điều xấu xa

TRẦM THIÊN THU

Tam Nhật Vượt Qua – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Thi ca  | Leave a Comment
Giọt nước mắt Apr 05

Ai sinh ra cũng khóc. Đứa bé khóc được là thân nhân vui mừng, đứa bé không khóc thì thân nhân… lo. Vậy khóc là “tín hiệu tốt” chứ không phải là cười.

Rồi khôn lớn dần, trong cuộc sống, ai cũng đã từng hơn một lần rưng rưng nước mắt hoặc đầm đìa nước mắt. Mà nói đến nước mắt là nói đến trạng thái khóc. Thường thì khóc là thể hiện tâm trạng buồn. Nhưng cũng có thể khóc vì vui, như thi hào Nguyễn Công Trứ mô tả: “Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười”. Buồn mà lại cười, đó là lúc người ta quá buồn, buồn muốn phát điên, buồn muốn khóc, và rồi khóc đến cạn nước mắt. Có thể đó là “cái bí ẩn” trong cách nói của người Việt Nam thường nói: “Buồn cười quá!”.

Cụ Nguyễn Công Trứ đã từng “khóc”, vì ông đã “ngồi buồn mà trách ông xanh” và mong ước:

Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Nhưng với chúng ta, những người có niềm tin vào Đức-Kitô-tử-nạn-và-phục-sinh, chúng ta có quyết tâm tích cực hoàn toàn khác:

Kiếp sau xin vẫn làm người

Và làm thánh giữa Nước Trời trường sinh

Chúng ta không chỉ “vẫn làm người”, vì thân xác chúng ta cũng được sống lại và lên trời, đặc biệt là còn làm “thánh nhân”. Nhưng trước khi “về Nhà Cha” hưởng phúc trường sinh vinh quang, chúng ta không thể không phải chịu đau khổ, nghĩa là có những lúc buồn nẫu ruột, buồn đến chết, buồn đến bật khóc,… đến nỗi những người kém lòng tin đã tự tử.

Khóc có nhiều kiểu. Khóc có nhiều nguyên nhân. Khóc có nhiều mức độ. Thế nên nước mắt cũng có nhiều loại, kể cả “nước mắt cá sấu”. Và tất nhiên, nước mắt không chỉ có vị mặn mà còn có những vị khác nữa!

Với nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, ông có “giọt nước mắt ngà”: “Em đứng bên sông buồn. Nhìn cuộc tình trôi qua và lòng người phôi pha. Trên hai đóa môi hồng. Nụ cười đã đi xa. Ôi giọt nước mắt nào cho cuộc tình đầu… Thôi một giọt nước mắt này. Cho cuộc tình đam mê, cho người tình trăm năm… Giọt lệ nào thương vay, tình đành tràn mi cay… Ôi giọt nước mắt ngà cho cuộc tình đầu tiên!”. Giọt-nước-mắt-ngà của NS họ Ngô là giọt-lệ-tình-sầu, một “kiểu” nước mắt của riêng ông.

Người đời có nhiều loại nước mắt, riêng người Công giáo có thêm loại nước-mắt-ăn-năn, nước-mắt-khóc-cho-tội-mình mang vị mặn chát, nhưng đó là loại nước-mắt-thánh-thiện rất cần thiết. Nước mắt làm cho sáng mắt, và nước mắt có thể làm “trôi đi” phần nào nỗi buồn.

Tác giả Thánh vịnh có kiểu khóc thế này: “Tôi lang thang như người khóc mẹ, tôi tủi buồn cúi mặt xuống mà đi” (Tv 35:14). Nước mắt chảy nhiều đến nỗi tác giả “xin lấy vò mà đựng nước mắt” (Tv 56:9), và thường đem “nước mắt hoà nước uống” (Tv 102:10). Có những giọt nước mắt bình thường hoặc tầm thường, nhưng có những giọt nước mắt quý giá – gọi là châu lệ.

Thánh Phaolô cũng đã từng phải khóc: “Tôi phải than khóc nhiều người trước đây đã phạm tội, mà nay chẳng chịu ăn năn hối cải về những việc ô uế, gian dâm và phóng đãng họ đã làm” (2 Cr 12:21).

Thánh sử Luca tường thuật: “Có một phụ nữ tội lỗi cúi sát chân Chúa Giêsu mà khóc. Chị lấy nước mắt mình mà tưới ướt chân Ngài, lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Ngài và lấy dầu thơm mà đổ lên” (Lc 7:38). Những giọt nước mắt như vậy thực sự là châu lệ, vì đầy tâm tình sám hối và tin yêu. Do đó, Chúa Giêsu đề cao tấm gương của phụ-nữ-tội-lỗi này: “Yêu nhiều nên được tha nhiều” (Lc 7:47).

Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Đại Tang của Giáo hội, đúng ra là Thế Giới Tang. Nhiều người chú trọng nhiều đến “bề ngoài”, lo “bày tỏ” bằng những cách để đánh vào thị hiếu của giới bình dân. Nếu thực sự ngoại tại có thể giúp nội tại thì cũng tốt, nhưng đừng thái quá. Điều cần là “đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng” (Ge 2:13). Khóc cho tội và chết cho tội là thành tâm sám hối và quyết tâm chừa tội, đó mới là cách Chúa muốn. Cứ lo “diễn” bề ngoài mà không chú ý nội tâm thì chắc chắn Chúa không muốn.

Chính Đức Giêsu cũng đã khóc vì thương tiếc thành Giêrusalem (x. Lc 19:41), nhưng khi người ta than khóc Ngài khi thấy Ngài vác Thập giá, dù Ngài đang rất mệt mỏi và đau đớn mà vẫn ráng quay lại nói:“Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28).

Đó cũng chính là lời cảnh báo Ngài nói thẳng với chúng ta. Và rồi khi “Ngài ngự đến giữa đám mây”, nghĩa là lúc Ngài đến thế gian lần thứ hai, “ai nấy sẽ thấy Ngài, cả những kẻ đã đâm Ngài. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Ngài” (Kh 1:7).

Cuộc đời là chuỗi-đau-khổ-đầy-nước-mắt, nhưng chính đau khổ lại là diễm phúc: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5:5). Khóc không bị chê trách mà được chúc phúc. Giọt-nước-mắt đó đầy vị-mặn-yêu-thương. Chỉ có một loại nước mắt tệ hại nhất và vô phúc nhất là giọt-nước-mắt-trong-hỏa-ngục, vì phải đời đời “khóc lóc và nghiến răng” (Mt 8:12; Mt 13:42; Mt 13:50; Mt 22:13; Mt 24:51; Mt 25:30; Lc 13:28).

Chúa Giêsu đã dùng chính sự thất bại để chiến thắng, dùng chính đau khổ để đạt vinh quang, và dùng chính cái chết để đạt sự phục sinh. Đấng Cứu Thế đã vậy thì chúng ta không thể không như Ngài – nghĩa là cũng phải khóc lóc và rơi lệ hằng ngày. Tuy nhiên, Ngài đã chết để chúng ta được sống, và rồi “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt chúng ta” (Kh 7:17; Kh 21:4).

Lạy Chúa Cha hằng hữu đầy lòng thương xót, vì tội lỗi khốn nạn của chúng con mà Ngài bắt Đức Kitô, Con Yêu Dấu của Cha, phải chết đau thương. Chúng con thành tâm xin lỗi Đức Giêsu Kitô, xin cho nước mắt của chúng con được hòa với Máu và Nước của Ngài để nài xin lòng thương xót cho chính chúng con và toàn thế giới. Chúng con khẩn thiết Chúa Cha thương xót và tha thứ cho chúng con, xin giúp chúng con trung tín với Ơn Chúa để đừng làm khổ Đức Giêsu chút nào nữa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Tam Nhật Vượt Qua – 2012

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Sống niềm vui Phục sinh Apr 04

Sống niềm vui Phục sinh
Tác giả THERESE BORCHARD
Tôi rất thích câu Kinh thánh Ga 20:15: “Khi Chúa Giêsu thấy Maria Mađalêna khóc ở cửa mộ thì Ngài hỏi: Này chị, sao chị khóc?”. Lúc đó Ngài không hỏi một câu văn hoa bóng bẩy. Ngài muốn biết lý do chúng ta lo âu, khóc lóc và phiền muộn khi niềm hy vọng tiềm ẩn trong mọi sự – nếu chúng ta lưu ý.
Phục sinh mang ý nghĩa giải thoát, rầt ý nghĩa đối với một người như tôi, vì tôi luôn cảm thấy buồn sầu và tiêu cực. Mừng lễ Phục sinh là dịp để chúng ta nói: “Vâng, lạy Chúa Giêsu, con tin”. Khi làm vậy, hãy nắm bắt niềm hy vọng có sẵn đó.
1. Tiến lên và chạm vào Ngài. Sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ và nói: “Sao anh em phiền muộn? Sao anh em nghi ngờ? Hãy sờ vào Thầy và xem đây, ma không có xương thịt như anh em thấy Thầy”.
Nếu tôi là một trong số họ, tôi không chỉ phiền muộn mà chắc rằng tôi sẽ không đến gần sờ thử. Tôi nghi ngại. Nhưng tôi tìm thấy sự an tâm trong sự bảo đảm của Chúa Giêsu rằng sự phục sinh của Ngài là thật. Chúa Giêsu là thật, sự phục sinh là thật, do đó mà các lời hứa của Ngài là thật. Nghĩa là chúng ta khả dĩ tin Ngài khi Ngài nói với chúng ta rằng Ngài sẽ ở với chúng ta đến tận thế (Mt 28:20).
2. Thiên Chúa tốt lành. Trước khi chịu chết, Chúa Giêsu  nhắc lại rằng Ngài được sai đến nhân danh Chúa Cha. Thật vậy, qua nhiều phép lạ, nhất là việc cho Ladarô sống lại, cho thấy tính tốt lành của Thiên Chúa: “Vì Cha yêu Con và cho Chúa Con thấy mọi sự Người làm, và Người sẽ cho Chúa Con thấy những việc vĩ đại hơn vậy, đến nỗi anh em có thể ngạc nhiên” (Ga 5:20).
Chân phước Angela Foligna, thế kỷ 14, là người mẹ và người vợ, rồi là người viết xuất chúng về các điều thần bí, đã viết: “Bước đầu tiên mà linh hồn phải có khi đi vào con đường yêu thương là biết Thiên Chúa qua chân lý, nhờ đó mà muốn đạt tới Thiên Chúa… Biết Chúa qua chân lý là biết Ngài như chính Ngài, hiểu sự xứng đáng của Ngài, vẻ đẹp của Ngài, sự ngọt ngào của Ngài, sự tuyệt luân của Ngài, sức mạnh của Ngài, sự tốt lành của Ngài, bản chất cực tốt lành của Ngài”.
Tôi nghĩ rằng tin Chúa tốt lành là điểm phục sinh. Thiên Chúa có tốt lành? Có. Chúng ta có thể nói vậy với niềm xác tín vào sự Phục sinh.
3. Phó thác. Hãy phó thác ý muốn và cuộc đời mình cho Chúa quan phòng. Thánh Thomas Tiến sĩ viết: “Tính thánh thiện không gì hơn là quyết định dứt khóat, một hành động anh dũng của một linh hồn phó thác cho Thiên Chúa. Nhờ ý muốn thẳng thắn mà chúng ta yêu mến Chúa, chạy về phía Chúa, đạt tới Ngài và sở hữu Ngài”.
Mỗi khi chúng ta nói với Chúa: “Hãy lấy điều đó khỏi con”, chúng ta đang sống niềm vui Phục sinh, vì chúng ta đang nhớ lời hứa của Chúa rằng Ngài sẽ cung cấp cho chúng ta, Ngài không bỏ chúng ta, và dù chúng ta nghi ngờ thì Ngài vẫn thực sự đáng tin.
4. Loại bỏ sợ hãi. Trong trình thuật của thánh Mát-thêu, thiên thần Chúa hiện ra với Maria và một Maria khác ở nơi mộ trống, rồi nói với họ: “Đừng sợ, vì tôi biết các chị đang tìm Giêsu bị đóng đinh. Ngài không còn ở đây. Ngài đã sống lại như Ngài đã nói”. Sau đó Chúa Giêsu gặp các chị và lặp lại: “Đừng sợ!” (Mt 28:10).
Có thể điều Chúa Giêsu nói ở đây là đừng sợ. Loại bỏ sợ hãi là điều không dễ làm. Nhưng nếu chúng ta có thể loại bỏ sợ hãi, dù loại bỏ dần dần, chúng ta sẽ tránh xa nỗi buồn thập giá và đến gần sự tuyệt vời của ngôi mộ trống.
Cố tu sĩ Thomas Merton, dòng Trap, viết: “Nỗi sợ hãi thu hẹp lối vào trái tim, co rút khả năng yêu thương và làm đóng băng khả năng trao tặng chính mình”.
5. Công khai. Mệnh lệnh của Chúa Giêsu là rao giảng công khai. Cho dù bạn có thể giống như kẻ khờ dại, cứ nói với người ta rằng sự sống lại đã xảy ra thực sự. không nhất thiết chúng ta phải là người rao giảng Tin Mừng từ xa. Chúng ta khả dĩ làm và nói mọi thứ, ngôn ngữ và hành động của chúng ta luôn trở lại với sự Phục sinh, truyền niềm hy vọng cho mọi người chúng ta gặp.
6. Khiêm nhường. Nếu Chúa Giêsu là Thiên Chúa, và chỉ có một Thiên Chúa, điều đó nghĩa là không ai trong chúng ta là Thiên Chúa. Đó là sự thật quan trọng khác về sự sống lại: Thiên Chúa trở nên con người, con người không thể trở nên Thiên Chúa. Tôi biết tôi thường lẫn lộn hai điều đó, nhất là khi tôi nói qua điện thoại với nhân viên bảo hiểm y tế, vì tôi cảm thấy mình có quyền hơn người đó.
Thánh nữ Catarina Siena viết: “Hãy nhỏ bé và khiêm nhường. Hãy nhìn vào Thiên Chúa, Ngài tự hạ làm con người. Đừng làm mình bất xứng với những gì Thiên Chúa đã làm cho chúng ta”. Với sự khiêm nhường, chúng ta sẽ có khả năng hơn nhờ sự phục sinh. Điều đó như sự bù đắp những gì chúng ta không thể có, nhưng Thiên Chúa khả dĩ cung cấp cho chúng ta nếu chúng ta tin rằng ngôi mộ trống.
7. Hành trình Emmaus. Tôi luôn được đánh động bởi trình thuật của thánh Luca về hành trình Emmaus. Hai môn đệ trên đường đi Emmaus, Chúa Giêsu đến gần và hỏi họ đang nói chuyện gì. Một người nói: “Sao ông hỏi vậy? Ông không nghe xôn xao chuyện gì ư?”. Và họ chợt nhận ra Ngài khi Ngài cùng ngồi ăn với họ. Nhưng ngay khi họ nhận ra Ngài thì Ngài biến đi.
Hằng ngày chúng ta có dịp đi Emmaus nếu chúng ta đồng ý với thánh Leo Cả: “Chia sẻ sự phục sinh của Chúa Kitô là không bị ràng buộc bởi những gì tạm thời, nhưng chỉ ràng buộc bởi sự sống vĩnh hằng mà Ngài trao ban cho chúng ta… Sự phục sinh đã khởi sự nơi Đức Kitô, và Ngài muốn dẫn chúng ta đến sự viên mãn của sự sống và sự chữa lành”.
8. Cầu nguyện liên lỉ. Trong trình thuật của thánh Luca, tôi thích câu: “Họ hỏi nhau: Lòng chúng ta không sốt sáng khi Ngài nói chuyện với chúng ta trên đường đi và giải nghĩa Kinh thánh cho chúng ta sao?” (Lc 24:32).
Hành trình tới Emmaus là lời cầu nguyện, các nhiệm vụ nhỏ mọn của chúng ta hằng ngày cũng là những lời cầu nguyện. Thánh bổn mạng của tôi, Têrêsa Hài đồng, đã định nghĩa: “Lời cầu nguyện là điều bộc phát từ đáy lòng, là ánh mắt hướng về trời cao, là lời tạ ơn, là tình yêu giữa cơn thử thách và giữa niềm vui”. Đó là cách cầu nguyện khi chúng ta sống niềm vui Phục sinh.
9. Nhận biết Chúa trong mọi sự. Nếu mùa Chay là sống tĩnh lặng để lắng nghe tiếng Chúa thì lễ Phục sinh là ca vang Alleluia với Ngài. Và nếu 40 ngày bắt đầu bằng thứ tư lễ Tro là tách mình ra khỏi ai đó, nơi nào đó và thương mình hơn thì lễ Phục sinh là đón nhận mọi người, mọi nơi, mọi thứ gì thúc đẩy sự tốt lành, vẻ đẹp và tình yêu thương. Cố Giáo hòang Gioan-Phaolô II đã viết: “Chúng ta có thể tìm thấy Chúa trong mọi sự. Chúng ta có thể hiệp thông với Ngài trong mọi sự và qua mọi sự”. Thiên Chúa hằng sống và hiện hữu khắp nơi.
Hãy sống niềm vui Phục sinh ở mọi nơi và mọi lúc. Hãy cầm lấy, tạ ơn, bẻ ra và trao cho người khác chính cuộc đời mình!

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Ánh sáng Phục sinh Apr 04

(Chúa Nhật Phục Sinh, năm B)

Chúa Giêsu phục sinh khải hoàn, chúng ta hân hoan hợp xướng: “Alleluia!”, nhưng đồng thời chúng ta cũng có trọng trách: “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí Chúa đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4:22-24).

Ánh sáng Phục sinh đang chiếu tỏa chói ngời trên mỗi chúng ta. Chúng ta vô cùng vui mừng vì Đức Kitô đã sống lại thật và lòng chúng ta đầy tin tưởng nhờ Lời Chúa động viên: “Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1:17-18).

Thánh Phêrô xác quyết: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào” (Cv 10:34). Đó là điều chắc chắn, và không loại trừ ai, vì mọi người đều bình đẳng trước mặt Chúa. Đừng cậy quyền ỷ thế hoặc ảo tưởng mình “ngon” hơn người khác!

Thánh Phêrô giải thích một loạt: “Đức Giêsu xuất thân từ Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Ngài. Đi tới đâu là Ngài thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Ngài” (Cv 10:37-38). Sau khi lỡ chối bỏ Sư phụ mình vì khiếp nhược và nhận biết sự thông cảm của Sư phụ Giêsu khi Ngài quay lại nhìn mình (Lc 22:61), ông Phêrô “thót tim” khi thấy ánh mắt ấy “rất lạ”, vừa nhân từ vừa trách móc, nhẹ nhàng mà có sức xoáy vào sâu vào lòng người, nên ông đã “khóc hết nước mắt”.

Sau khi biết Thầy Giêsu đã thực sự sống lại, ông Phêrô mạnh dạn nói một lèo, nói như chưa bao giờ được nói: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Ngài đã làm trong cả vùng dân Do Thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Ngài lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Ngài trỗi dậy, và cho Ngài xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Ngài, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại. Ngài truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Ngài là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Ngài và nói rằng phàm ai tin vào Ngài thì sẽ nhờ danh Ngài mà được ơn tha tội” (Cv 10:39-43).

Trước đây, một Phêrô-năng-động-và-thẳng-tính (trước mặt đám côn đồ mà ông dám rút gươm chém đứt tai một người đầy tớ thầy thượng tế – Ga 18:10) đã biến thành một Phêrô-khiếp-nhược. Nhưng sau khi Chúa Giêsu phục sinh, một Phêrô-nhát-đảm đã biến thành một Phêrô-can-đảm, lại dám nói thẳng nói thật như xưa. Đó là tác động của Chúa Thánh Thần!

Chúng ta cũng vậy, cũng đã bao phen “chối” Chúa và “bán” Chúa không văn tự. Nếu không tin cứ “sờ gáy” và thật lòng xét mình kỹ lưỡng mà xem. Nhưng dù chúng ta dã tâm với Ngài thì Ngài vẫn cho là “chuyện nhỏ”, và Ngài sẵn sàng “cho qua” hết. Vì thế, chúng ta can đảm kêu gọi: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:1). Cả Thánh vịnh 136 cũng lặp đi lặp lại 26 lần điệp khúc: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”. Chúng ta tin tưởng và đoan hứa: “Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm” (Tv 118:21). Tại sao? Vì:

Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ

Lại trở nên đá tảng góc tường

Đó chính là công trình của Chúa

Một công trình kỳ diệu vô thường

(Tv 118:22-23)

Thánh Phaolô căn dặn mỗi chúng ta: “Anh chị em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh chị em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới. Thật vậy, anh chị em đã chết, và sự sống mới của anh chị em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa” (Cl 3:1-3). Sợ chúng ta nản chí sờn lòng, Thánh Phaolô khuyến khích: “Khi Đức Kitô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh chị em sẽ được xuất hiện với Ngài, và cùng Ngài hưởng phúc vinh quang” (Cl 3:4). Lời hứa chắc chắn đó là niềm tin bất tử của tất cả chúng ta – những người đã, đang và sẽ hành động vì Đức-Kitô-Phục-Sinh.

Người-môn-đệ-Chúa-yêu (Gioan) tường thuật: Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mađalêna đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến.

Maria Mađalêna hốt hoảng thông báo: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, chúng tôi chẳng biết họ để Ngài ở đâu” (Ga 20:2). Vì quá sợ bọn thủ ác mà ai cũng quên khuấy những gì Thầy mình nói trước. Nghe vậy, ông Phêrô và Gioan liền tức tốc đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng Gioan trẻ hơn nên chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào, vì lịch sự và vì “kính lão đắc thọ”.

Ông Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ Gioan mới bước vào. Ông “đã thấy và đã tin” (Ga 20:8). THẤY và TIN là hai động từ quan trọng. Thấy rồi, liệu có đủ lòng tin? Nếu thấy và tin rồi thì phải có bổn phận làm chứng.

Theo Kinh thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Nhưng trước đó, cả Phêrô và Gioan cũng chưa hiểu (Ga 20:9), dù cả hai ông đều là những đệ tử ruột của Chúa Giêsu. Thế nên người thời nay, kể cả chúng ta, không thấy thì rất khó tin. Nhưng Chúa Giêsu lại xác định: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29).

Lạy Chúa, xin thêm đức tin cho chúng con và xin giúp chúng con sống trọn niềm vui phục sinh ngay trên cuộc lữ hành trần gian này, đồng thời giúp chúng con can đảm làm chứng nhân của Ngài suốt đời trong từng nhịp thở. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Alleluia ! Hãy vui lên ! Apr 04

(Lễ Vọng Phục Sinh, năm B)

Tù nhân rất hạnh phúc khi được phóng thích. Bệnh nhân rất hạnh phúc khi được phục hồi. Người đang khát rất hạnh phúc khi được giải khát. Người mong chờ rất hạnh phúc khi được mãn nguyện. Và còn nhiều dạng hạnh phúc khác khi chúng ta được như ý. Nhưng chắc chắn không có hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc được “cải tử hoàn sinh”.

Người Công giáo có một niềm hạnh phúc khác nữa là Chúa Giêsu phục sinh, đúng như lời Ngài nói trước: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”(Mc 9:31).

Tuần Thánh chồng chất nỗi buồn, nhưng đêm nay niềm vui nối tiếp nỗi mừng. Cho nên trong bài Công bố Tin mừng Phục sinh (Exultet), Giáo hội nhiều lần mời gọi mọi người “mừng vui lên!”, vì Đức Kitô “đã thay thế chúng ta trả nợ của Adam với Chúa Cha muôn thuở, và đã lấy máu hồng quý giá rửa sạch án tổ tông xưa”, và “vì đây là lễ vượt qua, lễ mà Chiên thật bị sát tế, trong máu Chiên môi miệng tín hữu được thánh hiến đêm nay”.

Đêm nay còn là đêm hạnh phúc vì “là đêm mà cha ông chúng ta, là con cháu Israel, thoát ly Ai Cập xưa, Chúa đã cho tiến qua Biển Đỏ vẫn khô chân; là đêm nhờ ánh sáng cột lửa thiêng xóa tan mọi bóng tối nhân gian; là đêm mà hết những ai có lòng tin Chúa Kitô khắp trên trần gian, được cứu thoát hết các vết nhơ và tối tăm tội khiên, được ơn thiêng đưa về hợp đoàn cùng các thánh nhân; và “là đêm mà xiềng xích bị bẻ tung, Đức Kitô khải hoàn chiến thắng vinh quang”.

Đặc biệt đêm nay còn là đêm hạnh phúc vì “nếu không được ơn cứu chuộc khỏi tội khiên, chúng ta sinh ra nào có ích chi!”. Thật kỳ diệu đối với phàm nhân: “Ôi nhiệm mầu thay! Lòng Yêu Thương của Chúa không ai hiểu thấu!”. Niềm vui đêm nay được nhân lên vì “tội Adam đã được tẩy xóa chính nhờ sự chết Chúa Kitô!”. Niềm vui tột đỉnh nên Giáo hội gọi Tội Nguyên Tổ là “tội hồng phúc”, chính tội hồng phúc đó“đã ban cho chúng ta Đấng cứu chuộc rất cao sang”, và Giáo hội gọi đêm nay là “đêm hồng phúc”, vì đêm nay là “đêm nối kết trời đất”.

Tv 33:4-6 xác định: “Lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất. Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú”. Có đau khổ mới biết hạnh phúc ngọt ngào thế nào, và muốn vinh quang thì phải biết chịu đựng đau khổ. Đức Kitô đã đau khổ tột cùng nên mới được vinh quang, vì thế: “Hạnh phúc thay quốc gia được Chúa làm Chúa Tể, hạnh phúc thay dân nào Người chọn làm gia nghiệp” (Tv 33:12). Đồng thời chúng ta phải luôn cầu nguyện với Chúa: “Xin đổ tình thương xuống trên chúng con như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài” (Tv 33:22). Lời cầu đó cũng là lời hứa của chúng ta thân thưa với Ngài.

Câu hỏi của Thánh Phaolô cũng chính là câu trả lời: “Anh em không biết rằng khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Ngài sao?”(Rm 6:3). Thánh Phaolô giải thích: “Được dìm vào trong cái chết của Ngài là chúng ta đã cùng được mai táng với Ngài. Bởi thế, cũng như Ngài đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:4). “Được dìm vào cái chết của Đức Kitô” lại chính là niềm hạnh phúc của chúng ta. Nghe chừng quá “ngược đời”, người không có niềm tin sẽ không thể hiểu nổi. Nhưng đó lại là sự thật 100%.

“Được dìm vào cái chết của Đức Kitô” không chỉ là hạnh phúc mà còn là sự may mắn của chúng ta, vì “chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Ngài đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Ngài, nhờ được sống lại như Ngài đã sống lại” (Rm 6:4), không chỉ vậy, “con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa” (Rm 6:6). Đó là cả một chuỗi kỳ diệu của cuộc đời người Công giáo.

Không kỳ diệu sao được, vì “ai đã chết thì thoát khỏi quyền lực của tội lỗi” (Rm 6:7). Thật vậy, “nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6:8). Thánh Phaolô xác quyết đó là niềm tin của chúng ta. Từ 3 giờ chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, Tử thần tưởng đã chiến thắng, nhưng hắn đành “bó tay” từ Đêm Vọng PhụcSinh: “Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết thì không bao giờ Ngài chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Ngài”. Ngài đã chết là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ” (Rm 6:9-10). Đức Giêsu sống lại thật, Ngài sống cho Thiên Chúa, và chắc chắn chúng ta cũng cùng sống lại với Ngài. Còn hạnh phúc nào hơn? Đó là điều “trên cả tuyệt vời”. Nhưng không thể cứ “khơi khơi”, không thể cứ “thấy sang bắt quàng làm họ”, hoặc “cục muối cắn đôi, còn cục đường ăn cả”, mà phải có điều kiện “ắt có và đủ”, nghĩa là ai đã sống Mùa Chay thì mới có thể cảm nhận niềm vui phục sinh, và ai đã “dám chết cho tội” thì mới xứng đáng cùng phục sinh với Đức Kitô: “Hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6:11).

Vừa hết ngày Sabát, bà Maria Mácđala với bà Maria mẹ ông Giacôbê, và bà Salômê, mua dầu thơm để đi ướp xác Đức Giêsu. Sáng tinh sương ngày thứ nhất trong tuần, lúc mặt trời hé mọc, các bà ra mộ. Họ bảo nhau: “Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ giùm ta đây?” (Mc 16:3), vì tảng đá lấp cửa mộ là tảng đá lớn lắm, đàn ông lực lưỡng mới có thể lăn ra nổi. Nhưng vừa ngước mắt lên, họ đã thấy tảng đá lăn ra một bên rồi. Ngạc nhiên này tiếp theo ngạc nhiên khác. Họ vào trong mộ thì thấy một người thanh niên ngồi bên phải, mặc áo trắng. Là phụ nữ “yếu bóng vía” nên họ hoảng sợ. Nhưng người thanh niên liền trấn an: “Đừng hoảng sợ!” (Mc 16:6a), rồi người thanh niên nói tiếp: “Các bà tìm Đức Giêsu Nadarét, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Ngài đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa. Chỗ đã đặt Ngài đây này!” (Mc 16:6b).

Người thanh niên đó nói thêm: “Xin các bà về nói với môn đệ Ngài và ông Phêrô rằng Ngài sẽ đến Galilê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Ngài như Ngài đã nói với các ông” (Mc 16:7). Chắc lúc đó các bà nhà ta run như cầy sấy, sợ quá nên chẳng nói được lời nào. Nghe người thanh niên kia nói xong, “họ vừa ra khỏi mộ liền chạy trốn, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía” (Mc 16:8a), thậm chí “chẳng nói gì với ai vì sợ hãi” (Mc 16:8).

Tội nghiệp các chị em phụ nữ quá! Chiều Thứ Sáu, họ không sợ mà cứ lẽo đẽo tiễn Chúa Giêsu lên Đồi Can-vê như “đưa đám tang sống” và khóc hết nước mắt. Thế mà bây giờ, biết Chúa Giêsu đã sống lại, họ lại sợ hãi và chạy mất dép như ma đuổi. Phụ nữ là vậy, thông cảm! Việc cần quan tâm là: ĐỨC KITÔ ĐÃ PHỤC SINH. Hãy vui mừng lên! Alleluia!

Lạy Chúa, tất cả là hồng ân vô biên của Ngài. Chúng con thật hạnh phúc được đắm mình trong Biển Hồng Ân nhờ Lòng Thương Xót vô biên của Ngài. Chúng con xin tạ ơn Chúa Cha đã ban Thánh Tử Giêsu cho chúng con, chúng con xin tạ ơn Đức Kitô đã cứu độ chúng con, và chúng con xin tạ ơn Chúa Thánh Thần luôn hướng dẫn chúng con trong mọi hoàn cảnh. Cúi xin Ba Ngôi gìn giữ, nâng đỡ và thánh hóa chúng con, đừng để chúng con phải thiếu vắng Chúa một tích tắc nào. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Tôn Giáo  | Leave a Comment
Hoài cảm Apr 04

Ca khúc “Hoài Cảm” của nhạc sĩ Cung Tiến có cách viết lạ, nét nhạc du dương, giản dị mà vẫn có chất nhạc bác học, giống như giao hưởng. Âm nhạc của ông nhẹ nhàng, không cầu kỳ, nhưng vẫn đủ chuyển tải tình cảm sâu lắng khiến người nghe rung nhịp theo từng nốt nhạc. Ca khúc “Hoài Cảm” là một trong các ca khúc nổi tiếng có sức thuyết phục.

Chiều buồn len lén tâm tư, mơ hồ nghe lá thu mưa, dạt dào tựa những âm xưa, thiết tha ngân lên lời xưa. Quạnh hiu về thấm không gian, âm thầm như lắng vào hồn, buổi chiều chợt nhớ cố nhân, sương buồn lắng qua hoàng hôn.

NS Cung Tiến không xa lạ với nhiều người, nhất là những người trung niên trở lên. Nhạc của ông sâu lắng, có nét riêng độc đáo, buồn mà không ủy mị, ca từ giản dị mà thâm sâu, điển hình là ca khúc Hoài Cảm.

Ngày nào cũng có một buổi chiều, giống nhau với thời gian và khác nhau về thời tiết. Nhưng đối với người mang tâm sự lại rất khác vì chiều buồn len lén tâm tư để rồi mơ hồ nghe lá Thu mưa. Rất bình thường với tâm trạng con người, vậy mà NS Cung Tiến có thể cảm thấy Quạnh hiu về thấm không gian, âm thầm như lắng vào hồn, vì với ông là buổi chiều chợt nhớ cố nhân, và ông cảm thấy sương buồn lắng qua hoàng hôn.

Lòng cuồng điên vì nhớ. Ôi đâu người, đâu ân tình cũ? Chờ hoài nhau trong mơ, nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa. Một mùa Thu xa vắng như mơ hồ về trong đêm tối, cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa?

Hẳn là ông đã từng yêu rất mạnh và nhớ rất nhiều. Thật vậy, nhớ đến nỗi ông đã phải thốt lên: Lòng cuồng điên vì nhớ. Vì sao? Ông cứ tự hỏi: Ôi đâu người, đâu ân tình cũ? Xa rồi, xa nhau thật rồi, nhưng vẫn chờ hoài nhau trong mơ dù biết không bao giờ thấy nhau lần nữa. Tình yêu chân thật luôn có “nỗi sợ bí ẩn”. Buồn lắm, cái nỗi-buồn-không-tên ấy rất kỳ lạ vì tình yêu mạnh hơn cả Tử Thần kia mà!

Chờ nhau hoài cố nhân ơi, sương buồn che kín buồn đời, hẹn nhau một kiếp xa xôi, nhớ nhau muôn đời mà thôi. Thời gian tựa cánh chim bay, qua dần những tháng cùng ngày, còn đâu mùa cũ êm vui, nhớ thương biết bao giờ nguôi!

Vâng, linh cảm trắc trở và biết tình không trọn mà vẫn “chờ nhau hoài cố nhân ơi, sương buồn che kín buồn đời, hẹn nhau một kiếp xa xôi”, để rồi “nhớ nhau muôn đời mà thôi”. Thời gian vừa dài vừa ngắn, chỉ tựa cánh chim bay mà thôi… Tình yêu không có tuổi, còn sống thì còn nhớ, còn hoài niệm về mùa cũ êm vui thuở tình nồng say. Cố nhân có thể đang vui với hạnh phúc mới (kết hôn hoặc đi tu – vì nàng nói sẽ đi tu), có thể không hề nhớ đến mình, nhưng ai yêu thật thì không trách cố nhân, và không thể không có lúc chợt thốt lên: “Nhớ thương biết bao giờ nguôi!”

Đó không là ủy mị hoặc lụy tình mà là chân tình, dù gì cũng đã một thời là-của-nhau. Tình yêu luôn lãng mạn và đẹp vì tình dang dở, vì không đến được với nhau. Đó là tất yếu, vì vậy mà lòng người luôn ray rứt và luôn hoài cảm. Kỷ niệm vui là kỷ niệm buồn, kỷ niệm buồn là kỷ niệm buồn hơn. Đó là chiều sâu của ký ức!

Bốn mùa vẫn luân phiên. Có gì đó luôn kỳ lạ, nhất là mỗi lần Mùa Thu đi, để mùa Đông về. Khoảng giao mùa, và cũng là lúc “giao thoa” giữa buổi chiều và buổi tối. Nắng tắt. Gió se lạnh. Mưa sụt sùi. Ngoại cảnh ảnh hưởng nội tại. Nỗi bâng khuâng dâng lên bất chợt. Nghe tâm sự của NS Cung Tiến trong ca khúc Hoài Cảm mà không thể không nhớ người xưa. Giai điệu và ca từ quyện vào nhau buồn da diết. Một nỗi buồn có thật. Nhịp 3/4 dìu dặt đưa tôi về dĩ vãng. Ký ức ùa về… Thế mà đã hơn 20 năm rồi! Người ấy đã mang trái tim đi xa, một lúc nào đó còn chút gì để nhớ hay không?

KHA ĐÔNG ANH

Available at http://webphunu.net/content/du-thi-cam-nhan-am-nhac-hoai-cam-le-thu

VN:F [1.2.0_562]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Category: Âm nhạc  | Leave a Comment